Hiển thị các bài đăng có nhãn Ăn để khỏe. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Ăn để khỏe. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 26 tháng 5, 2016

Thực phẩm hữu cơ tìm về nội địa

Hiện nay, rất nhiều sản phẩm sạch, có nguồn gốc được nhiều doanh nghiệp (DN) đẩy mạnh sản xuất, phân phối trên thị trường; trong đó, có những sản phẩm mang thương hiệu VietGap, Global Gap. Tuy nhiên, những sản phẩm Organic (thực phẩm hữu cơ) lại ít người biết đến.

Thị trường tiềm năngTheo Viện kinh tế Nông nghiệp hữu cơ (VOAEI), trước thách thức về tình trạng sử dụng thuốc trừ sâu, thuốc kích thích tăng trưởng và hóa chất độc hại trong sản xuất nông nghiệp, chế biến thực phẩm, người tiêu dùng ngày càng có xu hướng tìm mua và ưu tiên sử dụng sản phẩm có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng, chất lượng đảm bảo và có thương hiệu uy tín trên thị trường.

Thực phẩm Organic hiện bày bán trên thị trường nội địa chưa nhiều do “kén” người mua.
Trước xu hướng đó, một số nhà đầu tư, các nông trường có quy mô khác nhau, kể cả các hợp tác xã nông nghiệp đã tiên phong chuyển dịch dần phương thức canh tác truyền thống sang sản xuất xanh và sạch nhằm cung cấp cho thị trường các sản phẩm thực phẩm an toàn, phù hợp theo tiêu chuẩn quy định như VietGap, Global Gap, hoặc theo định hướng nông nghiệp tự nhiên không dùng thuốc. Trong đó, nông nghiệp hữu cơ (NNHC) được xem là một lĩnh vực mới nổi ở Việt Nam, hứa hẹn hiệu quả kinh doanh lớn hơn và cơ hội phát triển tốt.

Tuy nhiên, trong hơn 10 năm qua, số lượng doanh nghiệp (DN) đi theo hướng NNHC chỉ vài chục DN. Phần lớn các DN này có sản phẩm hữu cơ được chứng nhận quốc tế, từ rau củ, quả, tôm cá, gạo, trà, dầu dừa… và chủ yếu xuất khẩu là chính. Chỉ hai, ba năm trở lại đây, các DN mới bắt đầu quay lại thị phần nội địa khi vấn đề thực phẩm bẩn, chất cấm được sử dụng trong chăn nuôi, trồng trọt, chế bến, sản xuất… được báo động và sản phẩm NNHC mới bắt đầu được người tiêu dùng tìm đến.

Chị Nguyễn Hạnh Uyên, Trưởng phòng quản lý bán hàng và tiếp thị của Công ty TNHH Dược phẩm Fito Pharma, một trong những đơn vị tiên phong đi vào lĩnh vực sản xuất sản phẩm NNHC cho biết, “cách đây 10 năm, Fito đã bắt đầu xuất khẩu sản phẩm của mình ra nước ngoài do các nước này rất quan tâm đến sản phẩm sạch. Hiện nay, thị trường Fito đang xuất khẩu là các nước châu Âu như Anh, Pháp, Thụy điển, Hà Lan, Ba Lan… và châu Mỹ như Mỹ, Canada, Nga… Các sản phẩm xuất khẩu chủ yếu là các lại trà hữu cơ, thực phẩm chức năng loại viên nang hữu cơ, mỹ phẩm (dầu gội, dầu xả, sữa tắm, vệ sinh phụ nữ…)... được chiết xuất từ lá trà xanh, trà đen, gừng, hoa lài, nha đam, atisô, quế, sả… “Hai năm trở lại đây, khi thấy nhu cầu người tiêu dùng tìm thực phẩm sạch tăng cao, Fito mới mạnh dạn đưa ra thị trường nội địa một số sản phẩm trà hữu cơ và được đón nhận rất nhiệt tình của người tiêu dùng”, chị Hạnh nói.

Tuy nhiên, một DN cung cứng thực phẩm hữu cơ với thương hiệu Organica tại TP Hồ Chí Minh cho biết, so với những sản phẩm sạch khác như VietGap, Global Gap thì giá thành sản phẩm Organic đắt hơn nên rất kén người mua. Lí giải vì sao đắt, đại diện Organica cho hay: “Để đầu tư NNHC, người nông dân phải mất nhiều thời gian và công sức cho việc chăm sóc đến thu hoạch. Một năm chỉ có vài mùa chứ không được quanh năm như phương thức trồng nông nghiệp vô cơ. Chưa kể, khi bị sâu bọ phá hoại, mùa đó coi như mất trắng, phải phá đi trồng lại, năng suất trồng cũng không cao. Vì thế, giá thành Organic luôn cao và số lượng cũng không nhiều. Đây cũng chính là cản trở khiến hệ thống Organic không thể phát triển rộng rãi”.

Cần hỗ trợ nhân rộng mô hình 

Theo Cục trồng trọt, Bộ nông nghiệp và Phát triển nông thôn, sản xuất NNHC là phương pháp nuôi, trồng rau quả, thực phẩm mà không sử dụng bất cứ một loại hóa chất độc hại nào như thuốc trừ sâu, thuốc bảo vệ thực vật, thuốc diệt có hóa chất cũng như các loại phân hóa học mà sản xuất hữu cơ chú trọng đến cân bằng hệ sinh thái tự nhiên. Một số mô hình sản xuất NNHC được nhiều người biết đến như sản xuất gạo thơm hoa sữa của Công ty CPTM và sản xuất Viễn Phú ở Cà Mau; rau hữu cơ của anh Nguyễn Bá Hùng ở Đà Lạt, cam sành đặc sản ở Hàm Yên, Tuyên Quang; mô hình chè Gap và hữu cơ ở Lâm Đồng do TS.Phạm S nghiên cứu…

Tuy nhiên, khó khăn hiện nay của các hộ nông dân, doanh nghiệp sản xuất theo mô hình NNHC tại Việt Nam là vẫn chưa có tổ chức nào cấp giấy chứng nhận cho sản phẩm hữu cơ. Các sản phẩm xuất khẩu được chứng nhận hữu cơ lại dựa vào tổ chức của nước ngoài như IMO, JAS, Control Union, liên hiệp kiểm soát (KSAL), ICEA, ACT… Mặt khác, chính sách hỗ trợ cho sản xuất nông nghiệp hữu cơ vẫn chưa có cho dù tháng 1/2012, Chính phủ đã ban hành quyết định 01/2012/QĐ-TTg về chính sách hỗ trợ việc áp dụng thực hành nông nghiệp tốt trong nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản bao gồm hữu cơ, nhưng hầu hết chỉ hỗ trợ cho an toàn/GAP. Ngoài ra, việc phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm hữu cơ ở các địa phương còn rất hạn chế, các tiêu chuẩn cơ bản cho sản xuất và chế biến hữu cơ vẫn chưa được rõ ràng. Do không dùng hóa chất nên năng suất cây trồng hữu cơ thấp, sản phẩm hữu cơ cho hình thức chưa đẹp…

Theo TS Võ Minh Khải, Tổng giám đốc Công ty Viễn Phú, đây thực sự là một thách thức và khó khăn rất lớn cho ngành sản xuất NNHC, khiến việc nâng cao nhận thức cho cộng đồng trong nước về giá trị của NNHC không cao. Để nhân rộng mô hình NNHC và thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu cây trồng từ nông nghiệp vô cơ sang hữu cơ, ông Khải kiến nghị Nhà nước và Chính phủ cần đồng hành hơn với DN để ngành NNHC phát triển mạnh. Chủ yếu, cần có cơ chế chính sách rõ ràng trong hỗ trợ ưu đãi khi nông dân, DN tham gia NNHC. “Cụ thể, nếu người nông dân canh tác hữu cơ sẽ được hưởng lợi gì về vay vốn ngân hàng (thời gian có dài hơn và lãi suất có thấp hơn) so với canh tác vô cơ. Tương tự, DN tham gia NNHC được hưởng lợi gì, ưu đãi gì khi phân phối sản phẩm, vay vốn, xúc tiến thương mại”, ông Khải nói. 
Bài và ảnh: Hải Yên TTXVN

Thứ Sáu, 13 tháng 5, 2016

Việt Nam có rau hữu cơ sạch, thịt sạch, nhưng đa phần đều mang đi xuất khẩu

Các chuyên gia và doanh nghiệp nhận định rằng Việt Nam đang có nhiều thuận lợi để phát triển nền nông nghiệp hữu cơ (hay còn gọi là organic) với các sản phẩm rau, thịt sạch không dùng thuốc trừ sâu và chất tạo nạc nhưng do rào cản về cơ chế chính sách cũng như thói quen tiêu dùng nên hiện nay sản phẩm organic đa phần không được tiêu thụ nội địa mà chủ yếu để xuất khẩu.


Đây là ý kiến tại hội thảo “Nhận diện sản phẩm nông nghiệp organic Việt Nam” do Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn phối hợp với Viện kinh tế Nông nghiệp hữu cơ (VOAEI) tổ chức ngày 12/5 tại TPHCM.
Theo VOAEI, Việt Nam hiện đang đương đầu với những thách thức lớn do tình trạng sử dụng thuốc trừ sâu, thuốc kích thích tăng trưởng và hóa chất độc hại trong sản xuất nông nghiệp, chế biến thực phẩm.
Chưa kể, tình trạng ô nhiễm môi trường sống đang có những tác động xấu đến chất lượng thực phẩm, đến sức khỏe, sự an toàn, niềm tin và cuộc sống người tiêu dùng. Vì thế, hiện nay người tiêu dùng ngày càng có xu hướng tìm mua và ưu tiên sử dụng sản phẩm có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng, chất lượng đảm bảo và có thương hiệu uy tín trên thị trường.
Trước tình thế đó, việc định hướng phát triển nền nông nghiệp sạch, đảm bảo an toàn thực phẩm cho thị trường trong nước và thị trường xuất khẩu trong xu thế hội nhập thế giới là một yêu cầu tất yếu để đáp ứng hài hòa nhu cầu phát triển kinh tế, môi trường và xã hội.
Theo xu hướng đó, nông nghiệp organic được xem là một lĩnh vực mới nổi ở Việt Nam, nhưng hứa hẹn hiệu quả kinh doanh lớn hơn và cơ hội phát triển tốt hơn trong tương lai.
Trong hơn 10 năm qua, nhiều doanh nghiệp (DN) đi theo hướng nông nghiệp organic đã có nhiều sản phẩm hữu cơ được chứng nhận quốc tế từ rau củ, quả, tôm cá, gạo, trà, dầu dừa… Tuy nhiên, phần lớn các sản phẩm này xuất khẩu sang các nước Châu Âu, Châu Mỹ... chứ chưa có mặt nhiều ở thị phần nội địa. Vì sao vậy?
Dưới đây là một số lí do:
Thứ nhất: giá cao, kén khách
Giá thành các sản phẩm nông nghiệp hữu cơ thường khá cao so với sản phẩm thông thường cùng loại, rất kén người mua nên vẫn chưa được người tiêu dùng trong nước biết nhiều. Chỉ đến khi vấn đề thực phẩm bẩn, chất cấm được sử dụng trong chăn nuôi, trồng trọt, chế bến, sản xuất… được báo động, sản phẩm nông nghiệp organic mới bắt đầu được người tiêu dùng tìm đến.
Ông Nguyễn Bá Hùng – Giám đốc Công ty TNHH Organik Đà Lạt cho biết, khi nguồn thực phẩm trong nước còn nhiều hạn chế về chất lượng, nhu cầu sử dụng sản phẩm rau hữu cơ (organic) ngày càng tăng cao. Phương pháp sản xuất nông nghiệp hữu cơ sẽ góp phần vào sản xuất sản phẩm rau quả không có dư lượng hóa học, đảm bảo sức khỏe người sản xuất và người tiêu dùng, hạn chế việc gây ô nhiễm môi trường.
“Lượng đơn hàng xuất khẩu rất lớn, có doanh nghiệp đặt chúng tôi 8 container ngò gai hữu cơ mỗi tuần để xuất khẩu vào Nhật Bản nhưng công ty không đủ hàng cung cấp. Doanh thu từ các sản phẩm rau chức năng đạt chuẩn organic như cà rốt baby, củ cải baby… cũng có thể đạt 500.000 – 1 triệu USD/ha”, ông Hùng thông tin.
Trong khi đó, để đáp ứng nhu cầu xuất khẩu nông sản hữu cơ sang Đức, Công ty TNHH Hưng Thịnh (Tây Ninh) đã ký kết hợp tác với một đối tác nước ngoài, có văn phòng tại An Giang. Theo đó, nông trại rộng 1.500 ha của Hưng Thịnh sẽ được đầu tư nuôi cá và tôm đạt tiêu chuẩn organic để cung cấp cho thị trường Đức.
Hay như ông Võ Minh Khải – Giám đốc Công ty Viễn Phú (Cà Mau) cho biết, sắp tới đây sẽ có thêm 7 doanh nghiệp Nhật Bản đến hợp tác với Viễn Phú để phát triển các sản phẩm gạo, tôm, cá hữu cơ để cung cấp cho thị trường Nhật. Phía Nhật sẽ hỗ trợ cây, con giống chất lượng, quy trình kỹ thuật…
Thứ hai: quy mô sản xuất quá nhỏ
Dù nhu cầu thị trường rất lớn, nhưng theo ông Trần Quốc Khánh, Thứ trưởng Bộ KHCN, diện tích sản xuất nông nghiệp hữu cơ hiện còn khiêm tốn, chỉ mới đạt khoảng 23.000ha, chiếm 0,2% diện tích sản xuất nông nghiệp cả nước.
Thứ 3: Thiếu đơn vị kiểm nghiệm, thiếu quy hoạch và cơ chế hỗ trợ
Dù sản xuất hữu cơ đang được nhiều doanh nghiệp quan tâm đầu tư, tuy nhiên, hiện nay nước ta vẫn chưa có tổ chức nào cấp giấy chứng nhận cho sản phẩm hữu cơ. Việc chứng nhận các sản phẩm nông nghiệp hữu cơ hiện nay phải phụ thuộc hoàn toàn vào các tổ chức nước ngoài như Control Union, IMO, JAS…
Tại hội thảo, nhiều DN tham gia sản xuất nông nghiệp oganic kiến nghị Nhà nước và Chính phủ cần đồng hành hơn với DN để ngành này phát triển mạnh. Cụ thể, cần có cơ chế chính sách rõ ràng trong hỗ trợ ưu đãi khi nông dân, DN tham gia nông nghiệp oganic như: nông dân canh tác hữu cơ sẽ được hưởng lợi gì về vay vốn ngân hàng (thời gian dài hơn và lãi suất thấp hơn) so với canh tác vô cơ. Tương tự, DN tham gia nông nghiệp hữu cơ được hưởng lợi gì, ưu đãi gì khi phân phối sản phẩm, vay vốn, xúc tiến thương mại…
Mặt khác, cần có sự quy hoạch cụ thể vùng sản xuất nông nghiệp hữu cơ để tránh sự ô nhiễm chéo của vùng sản xuất vô cơ. Bên cạnh đó, phải có sự phân biệt rõ thế nào là VietGab, Golbal Gap, Organic trong sản xuất và cấp giấy chứng nhận để người tiêu dùng nhận diện.
Xây dựng cơ chế thưởng, phạt rõ ràng trong sản xuất hữu cơ và vô cơ nhằm tạo động lực cho người nông dân, DN tham gia mô hình sản xuất nông nghiệp oganic. Có như vậy, việc sản xuất nông nghiệp từ vô cơ sẽ chuyển dịch dần so mô hình nông nghiệp hữu cơ, tạo được sự cạnh tranh khi hội nhập.

Thứ Năm, 12 tháng 5, 2016

Nông nghiệp sạch, an toàn là yếu tố quyết định trong xuất khẩu

KTNT - Nông nghiệp hữu cơ (organic) là lĩnh vực mới nổi ở Việt Nam nhưng hứa hẹn sẽ phát triển tốt trong tương lai.
Đó là nhận định của nhiều đại biểu tại hội thảo “Nhận diện sản phẩm nông nghiệp organic Việt Nam - xu hướng phát triển và xúc tiến liên kết sản xuất tiêu thụ” do Cục Chế biến Nông lâm Thủy Hải sản và Nghề Muối - Bộ NN&PTNT tổ chức tại Tp.HCM ngày 12/5.
Nhiều chuyên gia cho rằng, để nông nghiệp sạch, an toàn phát triển lâu dài cần phải hướng tới xuất khẩu
Việc định hướng phát triển nền nông nghiệp sạch, đảm bảo an toàn thực phẩm cho thị trường trong nước và thị trường xuất khẩu trong hội nhập là yêu cầu tất yếu hiện nay. TS. Nguyễn Quốc Vọng (Đại học RMIT, Australia) đã cảnh báo rằng nông nghiệp Việt Nam đang đứng trước những thách thức vô cùng lớn.
Đó là an toàn vệ sinh thực phẩm và biến đổi khí hậu. Trong tình hình người tiêu dùng đang rất lo ngại về thực phẩm không an toàn hiện nay, việc phát triển nông nghiệp hữu cơ (organic) là bước đi cần thiết và kịp thời cho nông nghiệp Việt Nam.
Việt Nam hiện đang xuất khẩu rau quả đến 40 quốc gia và vùng lãnh thổ. Trong 5 thị trường xuất khẩu rau quả lớn nhất của Việt Nam, ngoại trừ Trung Quốc thì Nhật Bản, Mỹ, Nga và Hàn Quốc đều là những thị trường lớn có yêu cầu khắt khe về an toàn vệ sinh thực phẩm (phải áp dụng Quy trình sản xuất nông nghiệp tốt GAP).
Còn ở trong nước, nhiều người tiêu dùng đã rất quan ngại về vệ sinh an toàn thực phẩm. Điều đó đòi hỏi để cung cấp một thị trường trong nước và xuất khẩu to lớn như vậy (năm 2015 xuất khẩu rau quả đạt 2,2 tỷ USD, tăng trưởng gần 50%) thì yêu cầu trước tiên phải đặt ra là nông sản Việt buộc phải đảm bảo an toàn, sạch.
Theo TS. Vọng, nông nghiệp hữu cơ cần cổ suý ở đây không phải là nông nghiệp hữu cơ thời hoang sơ mà là một nền nông nghiệp luôn tuân thủ 4 nguyên tắc chính về sức khoẻ, sinh thái, công bằng và quan tâm.
Tuy nhiên, hiện trạng sản xuất nông nghiệp hữu cơ ở Việt Nam được cho là vẫn còn khiêm tốn. Theo Hiệp hội Nông nghiệp hữu cơ Việt Nam, năm 2010 cả nước có 21.000ha nông nghiệp hữu cơ. Đến năm 2012 thì diện tích tăng lên thành 23.400ha, chiếm 0,2% diện tích đất sản xuất nông nghiệp.
Trang trại hữu cơ của công ty CP Thương mại Dịch vụ Mùa ( tại Long Thành - Đồng Nai)
Hiện nay, sản phẩm hữu cơ vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu của thị trường vì giá cao hơn 50 - 200% so với không hữu cơ. Vì vậy, theo Cục Trồng trọt - Bộ NN&PTNT, việc mở rộng sản xuất nông nghiệp hữu cơ còn gặp nhiều thách thức do chưa có tổ chức nào cấp giấy chứng nhận cho sản phẩm hữu cơ, chính sách hỗ trợ cho sản xuất nông nghiệp hữu cơ vẫn chưa có.
Hơn nữa, việc phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp hữu cơ ở các địa phương còn rất hạn chế, các tiêu chuẩn cơ bản cho sản xuất và chế biến hữu cơ vẫn chưa rõ ràng. Đó là chưa kể, vì có mục đích xuất khẩu nên sản phẩm organic của Việt Nam phải được quốc tế công nhận. Điều này đòi hỏi phải xây dựng tiêu chuẩn sản xuất nông nghiệp hữu cơ tốt, xây dựng các tổ chức chứng nhận độc lập và tổ chức cơ chế quản lý.
Thế nhưng, điều đáng lo lắng hiện nay mà ngành nông nghiệp sạch của Việt Nam đang phải đương đầu chính là tình trạng lạm dụng thuốc bảo vệ thực vật, chất kích thích tăng trưởng và hoá chất độc hại trong sản xuất nông nghiệp, chế biến thực phẩm.
Do đó, người tiêu dùng băn khoăn là làm sao để nông sản Việt được an toàn để đạt mức tăng trưởng cao khi xuất khẩu. Giới chuyên gia cho rằng, phải xây dựng Quy trình sản xuất nông nghiệp tốt cho từng ngành hàng và sau đó cần tổ chức cơ chế quản lý.
Về quy trình sản xuất nông nghiệp tốt, Việt Nam đã ban hành 4 quy trình VietGAP cho rau quả tươi, chè búp tươi, lúa gạo, cà phê và 8 quy trình chăn nuôi tốt VietGAHP cho bò sữa, bò thịt, dê sữa, dê thịt, lợn, gà, ngan/vịt và ong. Nếu áp dụng các quy trình VietGAP này một cách nghiêm chỉnh, nông sản Việt sẽ an toàn, sạch.
TS. Nguyễn Quốc Vọng cho rằng: vì nông sản là kết quả của một chuỗi sản xuất từ nông trại đến bàn ăn, gồm các khâu: gieo hạt, chăm sóc ngoài đồng, thu hoạch, sau thu hoạch, sơ chế, bảo quản, giao thông chuyên chở, phân phối đến cửa hàng, để cuối cùng đến tay người tiêu dùng. Cho nên, các nguy cơ ô nhiễm về hoá chất, sinh học và vật lý có thể xảy ra ở bất cứ khâu nào trong chuỗi. Cơ chế quản lý an toàn thực phẩm do vậy phải là cơ chế quản lý theo chuỗi sản xuất. Thực tế cho thấy, việc kiểm tra từng khâu tuy cần thiết nhưng chỉ là một công đoạn nhỏ trong một chuỗi sản xuất dài phức tạp, nên phải gom về một mối, như một dàn nhạc cần một nhạc trưởng.
Trong khi đó, việc phân bổ trách nhiệm về an toàn thực phẩm cho nhiều bộ ngành khác nhau mà không có một đầu mối quản lý sẽ tạo nên những khác biệt trong tiêu chuẩn, phương pháp đo lường. Chính các khoảng hở giữa các khâu trong chuỗi đã đưa đến tình trạng đùn đẩy trách nhiệm, không bộ ngành nào nhận lỗi về phía mình.
Nguồn: Kinh tế nông thôn

Sản phẩm hữu cơ: Sản xuất đã khó, bán còn khó hơn

Việc sản xuất ra một sản phẩm đúng nghĩa "hữu cơ" là một quá trình khó khăn, đặc biệt trong bối cảnh thời tiết nhiệt đới, sâu bệnh thường xuyên xuất hiện như ở Việt Nam. Tuy nhiên, theo các trang trại, cái khó hơn là làm sao để bán được sản phẩm này trên thị trường. 
Ngày 12-5, tại TPHCM đã diễn ra Hội thảo nhận diện sản phẩm nông nghiệp Organic Việt Nam, xu hướng phát triển và xúc tiến liên kết sản xuất tiêu thụ do Cục chế biến Nông lâm thủy sản và nghề muối, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) tổ chức.
Một đại biểu dự hội thảo đang tham khảo sản phẩm hữu cơ  của hệ thống ORGANICA được giới thiệu sáng nay. Ảnh: NH

Theo ông Nguyễn Bá Hùng, Công ty TNHH liên doanh Organik Đà Lạt, Lâm Đồng, có khá nhiều thách thức trên con đường sản xuất nông nghiệp hữu cơ. Đầu tiên là nhu cầu sử dụng thực phẩm hữu cơ của khách hàng và đây là một phân khúc thị trường khá đặc biệt khi đòi hỏi chất lượng, mẫu mã giá trị cao. Bên cạnh đó, nhu cầu của khách hàng đối với thực phẩm hữu cơ khá đa dạng.
Ông Nguyễn Đại Thắng đến từ Công ty cổ phần trang trại Bảo Châu cho biết, làm ra sản phẩm hữu cơ đã khó, bán được cho người tiêu dùng càng khó hơn. Ông Thắng cũng chia sẻ, những ngày đầu tổ chức chăn nuôi hữu cơ, công ty ông phải đi bán lẻ từng cái trứng, từng ký thịt. Lý do một sản phẩm tốt gặp khó khăn đầu ra, theo ông, là do người tiêu dùng vẫn chưa biết hay phân biệt thế nào là sản phẩm hữu cơ.
Trước những khó khăn về đầu ra của các công ty, ông Nguyễn Quốc Vọng, Đại học RMIT, Úc, đưa ra thông tin khá tích cực đối với tiềm năng phát triển của sản phẩm nông nghiệp hữu cơ. Theo số liệu của ông Vọng, hiện tại, nông nghiệp hưu cơ chỉ chiếm 5% trong cơ cấu thị trường sản phẩm nông nghiệp thế giới và hiện có nhiều thị trường đang có nhu cầu tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp hữu cơ.
Úc là quốc gia  đang muốn hướng đến nông nghiệp hữu cơ với 11 triệu héc ta. Sản phẩm hữu cơ nhiều nhất là thịt bò, rau, củ, quả. Từ những kinh nghiệm phát triển nông nghiệp hữu cơ ở Úc, ông Vọng đưa ra lời tư vấn cho các doanh nghiệp rằng, muốn bán được sản phẩm hữu cơ, điều đầu tiên là chiếm được sự tin tưởng của khách hàng. Tuy công ty có thể sản xuất ra sản phẩm hữu cơ nhưng vấn đề là người tiêu dùng có tin tưởng vào công ty hay không mới là quan trọng, bán sản phẩm hữu cơ là bán niềm tin cho khách hàng của mình.
Đại diện Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Bộ Khoa học và Công nghệ cũng đưa ra những cam kết sẽ sớm hoàn thiện những quy định, chính sách để hỗ trợ các công ty sản xuất nông nghiệp hữu cơ. Cụ thể, những cơ quan quản lý này sẽ đề nghị các địa phương sớm có quy hoạch cho vùng sản xuất hữu cơ, nghiên cứu ban hành các quy trình sản xuất, chế biến sản phẩm hữu cơ cho từng đối tượng sản phẩm, phù hợp với địa phương nơi sản xuất…
Để hỗ trợ cho sản xuất nông nghiệp an toàn, Chính phủ có ban hành quyết định 01/2012 /QĐ-TTg về chính sách hỗ trợ việc áp dụng các thực hành nông nghiệp tốt trong nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản bao gồm sản phẩm hữu cơ. Tuy nhiên, theo các đại biểu, lâu nay sự hỗ trợ chỉ tập trung cho sản phẩm an toàn, như sản phẩm thực hành nông nghiệp tốt (GAP). Theo các đại biểu, đây cũng  là một trong những rào cản trong việc quảng bá cho sự phát triển nông nghiệp hữu cơ hiện nay.

Nguồn: TBKTSG online

Mở rộng cửa cho thực phẩm hữu cơ vào siêu thị

Đại diện hệ thống siêu thị Saigon Co.op cho biết, sẵn sàng tiếp nhận thực phẩm hữu cơ vào kênh bán lẻ để tăng độ phủ sản phẩm chất lượng cao này.
Ông Phạm Trung Kiên – Phó tổng giám đốc Saigon Co.op cho hay, siêu thi sẽ sẽ chủ động liên kết hợp tác, ứng vốn, phối hợp cùng các nhà cung cấp tiếp thị sản phẩm hữu cơ chất lượng cao đến khách hàng trên toàn hệ thống bán lẻ của doanh nghiệp. Riêng tại mỗi siêu thị sẽ dành một khu vực nhận diện dành riêng cho các sản phẩm hữu cơ chất lượng cao. 
Theo của các chuyên gia nông nghiệp, thực phẩm hữu cơ đang trở thành một trào lưu tiêu dùng cũng như đầu tư, khởi nghiệp tại Việt Nam thời điểm này.
Ngoài những doanh nghiệp có thị phần ổn định, hiện nhiều doanh nghiệp có tiềm lực tài chính lớn như: Oganic Life, Thành Thành Công, TH True Milk… cũng bắt đầu rót vốn đầu tư, coi đó như một xu hướng của ngành nông nghiệp hiện đại.
Tuy nhiên, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Trần Thanh Nam cũng thừa nhận, ngành nông nghiệp chưa có tiêu chuẩn hay khung pháp lý quy định sản xuất và kinh doanh thực phẩm hữu cơ, nên hạn chế thúc đẩy các doanh nghiệp, tổ chức phát triển sản phẩm.
Mo rong cua cho thuc pham huu co vao sieu thi hinh anh 1
Đối tượng tiêu dùng thực phẩm hữu cơ sẵn sàng trả thêm tiền để mua những sản phẩm thực sự sạch gắn với bảo vệ môi trường.
 Ảnh chụp tại trang trại đạt chứng nhận hữu cơ USDA và EU của Hệ thống phân phối thực phẩm hữu cơ Organica (www.thucphamhuuco.vn)
. Ảnh minh họa: N.Thiên
Theo bà Phạm Phương Thảo, chủ chuỗi cửa hàng Oganica, đang có tình trạng người làm hữu cơ không biết bán đi đâu, trong khi trên thị trường lại hiếm hàng. Nhà nước cần xây dựng khung pháp lý cụ thể về thực phẩm hữu cơ, để vừa khuyến khích sản xuất cũng như bảo vệ các đơn vị kinh doanh. Hiện tại, cả nước chỉ có khoảng 10 đơn vị được cấp chứng nhận hữu cơ từ các tổ chức uy tín trên thế giới, nên chủng loại sản phẩm rất khiêm tốn. Trong khi đó, nhiều người nói sản xuất hữu cơ nhưng lại không có gì đảm bảo nên các công ty không dám bán hàng.
Sản phẩm hữu cơ được xem là những sản phẩm có tính năng ưu việt, an toàn như: không có thuốc trừ sâu, tươi ngon hơn, có lợi cho sức khỏe, không biến đổi gen,… Quá trình sản xuất sản phẩm này hiện gặp nhiều khó khăn, chi phí đầu tư cao, tiêu chuẩn chất lượng cũng chưa phân định rõ ràng nên chưa thu hút nông dân chuyển từ sản xuất truyền thống sang lĩnh vực này.
Tại hội thảo “Nhận diện sản phẩm organic Việt Nam – phát triển và xúc tiến liên kết tiêu thụ” tổ chức ngày 12/5 tại TP HCM, nhiều chuyên gia trong lĩnh vực nông nghiệp cho rằng, để thu hút đầu tư phát triển sản phẩm hữu cơ, ngành nông nghiệp cần có chính sách ưu đãi, như tạo quỹ đất, đào tạo kỹ thuật, giảm thuế, hỗ trợ kênh phân phối…
Nguồn: ZIng

Nhận diện nông sản Organic Việt Nam

Nhiều doanh nghiệp đã có nhiều sản phẩm hữu cơ được chứng nhận quốc tế từ rau củ, quả, tôm cá, gạo, trà, dầu dừa… Tuy nhiên, phần lớn các sản phẩm này xuất khẩu sang các nước Âu, Mỹ... chứ chưa có mặt nhiều ở thị phần nội địa.

Sáng nay ngày 12/5, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam đã phối hợp với Viện kinh tế Nông nghiệp hữu cơ (VOAEI) tổ chức hội thảo “Nhận diện sản phẩm nông nghiệp Organic Việt Nam - Xu hướng phát triển và xúc tiến liên kết sản xuất tiêu thụ”.

Theo VOAEI, Việt Nam hiện đang đương đầu với những thách thức lớn do tình trạng sử dụng thuốc trừ sâu, thuốc kích thích tăng trưởng và hóa chất độc hại trong sản xuất nông nghiệp, chế biến thực phẩm. Chưa kể, tình trạng ô nhiễm môi trường sống đang có những tác động xấu đến chất lượng thực phẩm, đến sức khỏe, sự an toàn, niềm tin và cuộc sống người tiêu dùng. Vì thế, hiện nay người tiêu dùng ngày càng có xu hướng tìm mua và ưu tiên sử dụng sản phẩm có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng, chất lượng đảm bảo và có thương hiệu uy tín trên thị trường.
Sản phẩm nông nghiệp hữu cơ rất được nhiều DN quan tâm và tìm hiểu. Ảnh: Hải Yên
Trước tình thế đó, việc định hướng phát triển nền nông nghiệp sạch, đảm bảo an toàn thực phẩm cho thị trường trong nước và thị trường xuất khẩu trong xu thế hội nhập thế giới là một yêu cầu tất yếu để đáp ứng hài hòa nhu cầu phát triển kinh tế, môi trường và xã hội. Theo xu hướng đó, một số nhà đầu tư, các nông trường có quy mô khác nhau, kể cả các hợp tác xã nông nghiệp tiên phong chuyển dịch dần phương thức canh tác sang sản xuất xanh và sạch nhằm cung cấp cho thị trường các sản phẩm thực phẩm an toàn, phù hợp theo tiêu chuẩn quy định như VietGap, Global Gap, hoặc theo định hướng nông nghiệp tự nhiên không dùng thuốc. Trong đó, nông nghiệp hữu cơ (NNHC) được xem là một lãnh vực mới nổi ở Việt Nam, nhưng hứa hẹn hiệu quả kinh doanh lớn hơn và cơ hội phát triển tốt hơn trong tương lai.

Trong hơn 10 năm qua, nhiều doanh nghiệp (DN) đi theo hướng NNHC đã có nhiều sản phẩm hữu cơ được chứng nhận quốc tế từ rau củ, quả, tôm cá, gạo, trà, dầu dừa… Tuy nhiên, phần lớn các sản phẩm này xuất khẩu sang các nước Châu Âu, Châu Mỹ... chứ chưa có mặt nhiều ở thị phần nội địa. Nguyên nhân là do giá thành các sản phẩm NNHC khá cao, rất kén người mua nên vẫn chưa được người tiêu dùng trong nước biết nhiều. Chỉ đến khi vấn đề thực phẩm bẩn, chất cấm được sử dụng trong chăn nuôi, trồng trọt, chế bến, sản xuất… được báo động, sản phẩm NNHC mới bắt đầu được người tiêu dùng tìm đến.
Do thực phẩm được trồng theo phương thức NNHC nên việc chăm sóc rất mất nhiều thời gian, công sức, năng suất thấp, dẫn đến giá thành cao. Ảnh: Hải Yên
Chính vì thế, hội thảo “Nhận diện sản phẩm nông nghiệp Organic” được tổ chức nhằm tạo ra một bức tranh nhận diện rõ ràng hơn của ngành NNHC, từ đó thúc đẩy phong trào cũng như cách thức chuyển dịch từ sản xuất nông nghiệp vô cơ sang NNHC. Bên cạnh đó, đây cũng là cơ hội cho các DN đi theo hướng NNHC cùng ngồi lại thảo luận về góc nhìn và phát triển thị trường, mức độ công nhận của xã hội, qua đó các DN có những chiến lược và phương thức thực tế hơn để mở rộng mô hình NNHC.

Ngoài ra, hội thảo cũng là nơi các để các doanh nghiệp trong và ngoài nước cùng nhau chia sẻ kinh nghiệm về ngành NNHC, tạo cho các DN đang sử dụng phương thức sản xuất nông nghiệp vô cơ chuyển đổi sang phương thức canh tác hữu cơ sạch và xanh hơn, là chất xúc tác thức đẩy xây dựng thị trường ngách sản phẩm hữu cơ có quy mô nhỏ phát triển thành thị trường lớn hơn cho các sản phẩm thay thế khác, đáp ứng phù hợp với những thách thức và nhu cầu bức xúc đối với môi trường và cộng đồng xã hội.

Tại hội thảo, nhiều DN tham gia sản xuất NNHC kiến nghị Nhà nước và Chính phủ cần đồng hành hơn với DN để ngành NNHC phát triển mạnh. Cụ thể, cần có cơ chế chính sách rõ ràng trong hỗ trợ ưu đãi khi nông dân, DN tham gia NNHC như, nông dân canh tác hữu cơ sẽ được hưởng lợi gì về vay vốn ngân hàng (thời gian dài hơn và lãi suất thấp hơn) so với canh tác vô cơ. Tương tự, DN tham gia NNHC được hưởng lợi gì, ưu đãi gì khi phân phối sản phẩm, vay vốn, xúc tiến thương mại… Mặt khác, cần có sự quy hoạch cụ thể vùng sản xuất NNHC để tránh sự ô nhiễm chéo của vùng sản xuất vô cơ. Bên cạnh đó, phải có sự phân biệt rõ thế nào là VietGab, Golbal Gap, Organic trong sản xuất và cấp giấy chứng nhận để người tiêu dùng nhận diện; thưởng, phạt rõ ràng trong sản xuất hữu cơ và vô cơ nhằm tạo động lực cho người nông dân, DN tham gia mô hình sản xuất NNHC. Có như vậy, việc sản xuất nông nghiệp từ vô cơ sẽ chuyển dịch dần so mô hình NNHC, tạo được sự cạnh tranh khi hội nhập.

Nguồn: Báo Tin tức