Hiển thị các bài đăng có nhãn ORGANICA. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn ORGANICA. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 26 tháng 5, 2016

Thực phẩm hữu cơ tìm về nội địa

Hiện nay, rất nhiều sản phẩm sạch, có nguồn gốc được nhiều doanh nghiệp (DN) đẩy mạnh sản xuất, phân phối trên thị trường; trong đó, có những sản phẩm mang thương hiệu VietGap, Global Gap. Tuy nhiên, những sản phẩm Organic (thực phẩm hữu cơ) lại ít người biết đến.

Thị trường tiềm năngTheo Viện kinh tế Nông nghiệp hữu cơ (VOAEI), trước thách thức về tình trạng sử dụng thuốc trừ sâu, thuốc kích thích tăng trưởng và hóa chất độc hại trong sản xuất nông nghiệp, chế biến thực phẩm, người tiêu dùng ngày càng có xu hướng tìm mua và ưu tiên sử dụng sản phẩm có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng, chất lượng đảm bảo và có thương hiệu uy tín trên thị trường.

Thực phẩm Organic hiện bày bán trên thị trường nội địa chưa nhiều do “kén” người mua.
Trước xu hướng đó, một số nhà đầu tư, các nông trường có quy mô khác nhau, kể cả các hợp tác xã nông nghiệp đã tiên phong chuyển dịch dần phương thức canh tác truyền thống sang sản xuất xanh và sạch nhằm cung cấp cho thị trường các sản phẩm thực phẩm an toàn, phù hợp theo tiêu chuẩn quy định như VietGap, Global Gap, hoặc theo định hướng nông nghiệp tự nhiên không dùng thuốc. Trong đó, nông nghiệp hữu cơ (NNHC) được xem là một lĩnh vực mới nổi ở Việt Nam, hứa hẹn hiệu quả kinh doanh lớn hơn và cơ hội phát triển tốt.

Tuy nhiên, trong hơn 10 năm qua, số lượng doanh nghiệp (DN) đi theo hướng NNHC chỉ vài chục DN. Phần lớn các DN này có sản phẩm hữu cơ được chứng nhận quốc tế, từ rau củ, quả, tôm cá, gạo, trà, dầu dừa… và chủ yếu xuất khẩu là chính. Chỉ hai, ba năm trở lại đây, các DN mới bắt đầu quay lại thị phần nội địa khi vấn đề thực phẩm bẩn, chất cấm được sử dụng trong chăn nuôi, trồng trọt, chế bến, sản xuất… được báo động và sản phẩm NNHC mới bắt đầu được người tiêu dùng tìm đến.

Chị Nguyễn Hạnh Uyên, Trưởng phòng quản lý bán hàng và tiếp thị của Công ty TNHH Dược phẩm Fito Pharma, một trong những đơn vị tiên phong đi vào lĩnh vực sản xuất sản phẩm NNHC cho biết, “cách đây 10 năm, Fito đã bắt đầu xuất khẩu sản phẩm của mình ra nước ngoài do các nước này rất quan tâm đến sản phẩm sạch. Hiện nay, thị trường Fito đang xuất khẩu là các nước châu Âu như Anh, Pháp, Thụy điển, Hà Lan, Ba Lan… và châu Mỹ như Mỹ, Canada, Nga… Các sản phẩm xuất khẩu chủ yếu là các lại trà hữu cơ, thực phẩm chức năng loại viên nang hữu cơ, mỹ phẩm (dầu gội, dầu xả, sữa tắm, vệ sinh phụ nữ…)... được chiết xuất từ lá trà xanh, trà đen, gừng, hoa lài, nha đam, atisô, quế, sả… “Hai năm trở lại đây, khi thấy nhu cầu người tiêu dùng tìm thực phẩm sạch tăng cao, Fito mới mạnh dạn đưa ra thị trường nội địa một số sản phẩm trà hữu cơ và được đón nhận rất nhiệt tình của người tiêu dùng”, chị Hạnh nói.

Tuy nhiên, một DN cung cứng thực phẩm hữu cơ với thương hiệu Organica tại TP Hồ Chí Minh cho biết, so với những sản phẩm sạch khác như VietGap, Global Gap thì giá thành sản phẩm Organic đắt hơn nên rất kén người mua. Lí giải vì sao đắt, đại diện Organica cho hay: “Để đầu tư NNHC, người nông dân phải mất nhiều thời gian và công sức cho việc chăm sóc đến thu hoạch. Một năm chỉ có vài mùa chứ không được quanh năm như phương thức trồng nông nghiệp vô cơ. Chưa kể, khi bị sâu bọ phá hoại, mùa đó coi như mất trắng, phải phá đi trồng lại, năng suất trồng cũng không cao. Vì thế, giá thành Organic luôn cao và số lượng cũng không nhiều. Đây cũng chính là cản trở khiến hệ thống Organic không thể phát triển rộng rãi”.

Cần hỗ trợ nhân rộng mô hình 

Theo Cục trồng trọt, Bộ nông nghiệp và Phát triển nông thôn, sản xuất NNHC là phương pháp nuôi, trồng rau quả, thực phẩm mà không sử dụng bất cứ một loại hóa chất độc hại nào như thuốc trừ sâu, thuốc bảo vệ thực vật, thuốc diệt có hóa chất cũng như các loại phân hóa học mà sản xuất hữu cơ chú trọng đến cân bằng hệ sinh thái tự nhiên. Một số mô hình sản xuất NNHC được nhiều người biết đến như sản xuất gạo thơm hoa sữa của Công ty CPTM và sản xuất Viễn Phú ở Cà Mau; rau hữu cơ của anh Nguyễn Bá Hùng ở Đà Lạt, cam sành đặc sản ở Hàm Yên, Tuyên Quang; mô hình chè Gap và hữu cơ ở Lâm Đồng do TS.Phạm S nghiên cứu…

Tuy nhiên, khó khăn hiện nay của các hộ nông dân, doanh nghiệp sản xuất theo mô hình NNHC tại Việt Nam là vẫn chưa có tổ chức nào cấp giấy chứng nhận cho sản phẩm hữu cơ. Các sản phẩm xuất khẩu được chứng nhận hữu cơ lại dựa vào tổ chức của nước ngoài như IMO, JAS, Control Union, liên hiệp kiểm soát (KSAL), ICEA, ACT… Mặt khác, chính sách hỗ trợ cho sản xuất nông nghiệp hữu cơ vẫn chưa có cho dù tháng 1/2012, Chính phủ đã ban hành quyết định 01/2012/QĐ-TTg về chính sách hỗ trợ việc áp dụng thực hành nông nghiệp tốt trong nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản bao gồm hữu cơ, nhưng hầu hết chỉ hỗ trợ cho an toàn/GAP. Ngoài ra, việc phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm hữu cơ ở các địa phương còn rất hạn chế, các tiêu chuẩn cơ bản cho sản xuất và chế biến hữu cơ vẫn chưa được rõ ràng. Do không dùng hóa chất nên năng suất cây trồng hữu cơ thấp, sản phẩm hữu cơ cho hình thức chưa đẹp…

Theo TS Võ Minh Khải, Tổng giám đốc Công ty Viễn Phú, đây thực sự là một thách thức và khó khăn rất lớn cho ngành sản xuất NNHC, khiến việc nâng cao nhận thức cho cộng đồng trong nước về giá trị của NNHC không cao. Để nhân rộng mô hình NNHC và thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu cây trồng từ nông nghiệp vô cơ sang hữu cơ, ông Khải kiến nghị Nhà nước và Chính phủ cần đồng hành hơn với DN để ngành NNHC phát triển mạnh. Chủ yếu, cần có cơ chế chính sách rõ ràng trong hỗ trợ ưu đãi khi nông dân, DN tham gia NNHC. “Cụ thể, nếu người nông dân canh tác hữu cơ sẽ được hưởng lợi gì về vay vốn ngân hàng (thời gian có dài hơn và lãi suất có thấp hơn) so với canh tác vô cơ. Tương tự, DN tham gia NNHC được hưởng lợi gì, ưu đãi gì khi phân phối sản phẩm, vay vốn, xúc tiến thương mại”, ông Khải nói. 
Bài và ảnh: Hải Yên TTXVN

Thứ Hai, 16 tháng 5, 2016

Đột phá vào nông nghiệp hữu cơ nhằm nâng cao sức khỏe cộng đồng

Vừa qua, tại TP HCM, Bộ NN-PTNT và Bộ KH-CN đã chủ trì Hội thảo Nhận diện sản phẩm nông nghiệp hữu cơ (Organic) Việt Nam, xu hướng phát triển và xúc tiến liên kết sản xuất, tiêu thụ. ... 
Trồng rau hữu cơ ở trang trại Organica (huyện Long Thành, Đồng Nai) của Cty CP Thương mại Dịch vụ Mùa... đơn vị sở hữu thương hiệu thực phẩm hữu cơ ORGANICA 


Hội thảo này cho thấy nông nghiệp hữu cơ đã bắt đầu có được sự quan tâm, thúc đẩy phát triển của các bộ, ngành liên quan. 

Nhu cầu tăng cao 

Sản xuất nông nghiệp hữu cơ còn tương đối mới mẻ ở Việt Nam, quy mô cũng còn hạn chế. Nhưng đến thời điểm này đã có nhiều doanh nghiệp đầu tư vào sản xuất nông nghiệp hữu cơ, trong đó có những doanh nghiệp đã có được chứng nhận hữu cơ bởi các tổ chức quốc tế có uy tín. 

Có thể kể ra đây như Cty TNHH Liên doanh Organik Lâm Đồng chuyên sản xuất các loại rau, củ, quả, đã có chứng nhận hữu cơ của châu Âu; Viễn Phú Green Farm có chứng nhận hữu cơ của Mỹ và châu Âu, đang sản xuất các sản phẩm hữu cơ như gạo (năng lực sản xuất 1.000 tấn/năm), thủy sản (1.000 tấn/năm), rau quả (2.000 tấn/năm), nấm rơm (500 tấn/năm)…; Cty CP Trang trại Bảo Châu (Hòa Bình) được tổ chức EMRO (Nhật Bản) cấp chứng nhận thịt, cá rau hữu cơ đạt tiêu chuẩn Certified Green, là trang trại sạch nhất trong chăn nuôi lợn ở Việt Nam; Cty CP Thương mại Dịch vụ Mùa có chứng nhận hữu cơ của Mỹ và EU cho các sản phẩm rau củ quả nhiệt đới… 

Điều đáng ghi nhận là phần lớn các sản phẩm có chứng nhận hữu cơ đều đang được tiêu thụ tốt, có những sản phẩm chưa đáp ứng đủ nhu cầu của người tiêu dùng. Tuy nhiên, cũng có những sản phẩm còn ít nhiều gặp khó khăn, nhất là lúc mới ra sản phẩm. 

Ông Nguyễn Đại Thắng (Cty CP Trang trại Bảo Châu), cho biết, khi mới bắt đầu đưa sản phẩm ra thị trường Cty từng phải đi bán từng quả trứng, con gà, con lợn hữu cơ, bởi nhiều người tiêu dùng chưa có khái niệm thịt, trứng hữu cơ là như thế nào. Mất nhiều tháng trời gian nan gây dựng thị trường, sản phẩm chăn nuôi hữu cơ của Bảo Châu mới dần được tiêu thụ ổn định. Một số hệ thống siêu thị cũng đã bắt đầu quan tâm tới việc đưa nông sản hữu cơ vào bán trong các cửa hàng của mình. 

Ông Phạm Trung Kiên, Phó TGĐ Sài Gòn Co.op, cho biết hệ thống này đang chuẩn bị xây dựng những cửa hàng bán lẻ hướng tới đối tượng khách hàng là những người thu nhập cao. Vì thế, ở những cửa hàng này sẽ bán các loại nông sản chất lượng cao, sản xuất bền vững, hữu cơ. 

Không chỉ đáp ứng được cho nhu cầu tiêu thụ nông sản cao cấp của những người tiêu dùng có thu nhập khá, nhiều sản phẩm hữu cơ, sinh thái của Việt Nam đang được xuất khẩu tới những thị trường khó tính. Ông Antonie Bùi, đại diện Cty Binca (Đức), cho biết, Cty này đã xuất khẩu cá tra, tôm sinh thái của Việt Nam sang EU. Viễn Phú cũng đã xuất khẩu gạo hữu cơ ra nước ngoài… 

Theo ông Wouter Van Ravenhorst (Control Union), nhu cầu thực phẩm hữu cơ trên thế giới đang có mức tăng trưởng 10 - 15%/năm. Đến năm 2014, trên toàn thế giới đã có trên 43 triệu ha canh tác hữu cơ, với tổng giá trị sản phẩm là 72 tỷ USD. Chính vì vậy, hầu hết doanh nghiệp đang đầu tư sản xuất nông sản hữu cơ đều đang có kế hoạch mở rộng quy mô sản xuất. Theo ông Nguyễn Đại Thắng, Cty CP Trang trại Bảo Châu hiện đang có trong chuồng 5.000 con lợn hữu cơ, và phấn đấu đến cuối năm sẽ tăng đàn lên gấp đôi. Cty TNHH Liên doanh Organik Lâm Đồng đang có tham vọng xây dựng làng sản xuất hữu cơ ở chân núi Tà Pa (Tri Tôn, An Giang). Viễn Phú Green Farm đang mong muốn mở rộng vùng nguyên liệu hữu cơ ra vùng xung quanh với diện tích 10.000 ha, ngoài trồng trọt và thủy sản, sẽ tiến hành chăn nuôi gia súc, gia cầm hữu cơ. Viễn Phú cũng muốn xây dựng những cơ sở chế biến sâu sản phẩm hữu cơ như nhà máy chế biến bún, miến, phở, nui hữu cơ; nhà máy chế biến đồ uống, chức ăn hữu cơ; nhà máy chế biến bột dinh dưỡng hữu cơ. 

Khâu đột phá

 Tuy nhiên, việc phát triển sản xuất hữu cơ hiện đang gặp nhiều khó khăn, mà trước hết là về chính sách. Thứ trưởng Bộ NN-PTNT Trần Thanh Nam cho biết, dù Chính phủ đã có Quyết định 01/2012QĐ-TTg về một số chính sách hỗ trợ việc áp dụng Quy trình thực hành sản xuất nông nghiệp tốt trong nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản (trong đó có nông nghiệp hữu cơ), đã quan tâm tới nông nghiệp hữu cơ qua việc cho phép thành lập Hiệp hội Nông nghiệp hữu cơ, nhưng rõ ràng các chính sách hiện có chưa theo kịp với yêu cầu đầu tư, phát triển nông nghiệp hữu cơ mà các doanh nghiệp đang thực hiện. Do đó, ông Võ Minh Khải, TGĐ Viễn Phú Green Farm, cho rằng Chính phủ cần có những chính sách cụ thể mang tính đột phá, nhằm mục đích chuyển đổi dần từ nền canh tác hóa học sang sản xuất thân thiện với môi trường để cải thiện sức khỏe cộng đồng và đáp ứng xu thế hội nhập, cạnh tranh trên thị trường thế giới. 

Cũng theo ông Khải, cần có các chính sách nêu rõ sự khác biệt trong việc khuyến khích nông dân, trang trại, HTX, doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp thân thiện với môi trường với nông nghiệp sử dụng hóa học hiện nay. 

Thứ trưởng Bộ NN-PTNT Trần Thanh Nam, nhận định, do nhu cầu sử dụng nông sản hữu cơ trong nước và trên thế giới đang tăng cao, nên xu hướng đầu tư vào nông nghiệp hữu cơ của các doanh nghiệp đang khá rõ rệt. Sắp tới Bộ NN-PTNT và Bộ KH-CN sẽ lập tổ công tác đến tìm hiểu kỹ những thuận lợi, khó khăn của các doanh nghiệp làm nông sản hữu cơ, từ đó có những tham mưu thiết thực cho lãnh đạo 2 Bộ trong công tác quản lý, điều hành phát triển nông nghiệp hữu cơ. Bộ NN-PTNT sẽ rà soát lại các chính sách liên quan đến nông nghiệp hữu cơ để có những điều chỉnh cho phù hợp và bổ sung những chính sách mới tạo thuận lợi cho sự phát triển của nông nghiệp hữu cơ. 

Trong những chương trình XTTM sắp tới, Bộ NN-PTNT sẽ chú trọng quảng bá nông nghiệp, nông sản hữu cơ của Việt Nam ra với thế giới. Thứ trưởng Trần Thanh Nam nhấn mạnh Bộ NN-PTNT coi sản xuất hữu cơ sẽ là khâu đột phá trong sản xuất nông nghiệp ở nước ta trong những năm tới.... 

Nguồn: Nông nghiệp Việt Nam

Thứ Bảy, 14 tháng 5, 2016

Nông nghiệp hữu cơ đẩy lùi thực phẩm bẩn

Tiêu dùng sản phẩm hữu cơ là xu hướng của thế giới với mức tăng trưởng mỗi năm 10 - 15% và VN cũng không ngoài xu hướng đó. Nhưng để có nền nông nghiệp hữu cơ đòi hỏi phải có chiến lược chính sách quốc gia.
Sản phẩm hữu cơ ở VN ngày càng được nhiều người lựa chọn. Hình chụp tại cửa hàng thực phẩm hữu cơ ORGANICA 130 Nguyễn Đình Chiểu, Quận 3, TP.HCM.ẢNH: ĐÀO NGỌC THẠCH

Tại hội thảo “Nhận diện sản phẩm nông nghiệp organic VN, xu hướng phát triển và xúc tiến liên kết sản xuất tiêu thụ”, do Bộ NN-PTNT phối hợp Bộ KH-CN tổ chức ngày 12.5 ở TP.HCM, các chuyên gia cho biết năm 2012 tổng giá trị của thị trường hữu cơ thế giới đạt 63 tỉ USD, đến năm 2014 tăng lên 72 tỉ USD. Mỹ là nước có thị trường phát triển nhất với tổng giá trị trên 17 tỉ USD, kế đến là Đức với khoảng 8 tỉ USD, các nước châu Âu, Canada, Úc và cả Trung Quốc. Còn tính theo bình quân đầu người thì Thụy Sĩ là nước tiêu thụ mạnh nhất sản phẩm hữu cơ với khoảng 221 EUR/người/năm.
Ở VN, việc sản xuất sản phẩm hữu cơ không chỉ là xu thế, mà là đòi hỏi cấp bách nhằm đẩy lùi thực phẩm bẩn đang có xu hướng gia tăng. Hiện ở VN có nhiều doanh nghiệp tham gia sản xuất sản phẩm hữu cơ, sản phẩm làm ra cũng rất đa dạng từ lương thực, thực phẩm, dược phẩm, mỹ phẩm, thức uống... Thế nhưng, nông nghiệp hữu cơ (NNHC) còn rất nhỏ bé với khoảng 0,2% tổng diện tích đất sản xuất, tương đương khoảng 23.400 ha.
Sản xuất đã khó, tiêu thụ càng khó


Tìm đường xuất khẩu sản phẩm hữu cơ
Theo ông Lê Thành, Chủ tịch HĐQT Công ty Organic Life, các doanh nghiệp đi tiên phong gặp khó khăn do phải tự xây dựng cả chuỗi cung ứng từ sản xuất đến bán lẻ trong khi nguồn lực hạn chế. Chính vì vậy, doanh nghiệp đã tập hợp lại với nhau để xây dựng “ngôi nhà organic”. “Mục đích là chuyên nghiệp hóa từng khâu trong chuỗi giá trị và tạo ra một lượng hàng hóa lớn, sản phẩm đa dạng. Cuối tháng này chúng tôi sẽ tổ chức một đoàn doanh nghiệp đi tìm hiểu thị trường và xúc tiến thương mại tại châu Âu”, ông Thành nói.

TS Nguyễn Bá Hùng, Tổng giám đốc Công ty TNHH liên doanh Organik Đà Lạt - người tiên phong làm NNHC ở VN khi đầu tư vào lĩnh vực này cách đây 21 năm, cho biết trong 10 năm đầu công ty làm từ những tiêu chuẩn thấp hơn để xây dựng quy trình, khoa học kỹ thuật chuẩn bị cho chuẩn organic. “Cách đây 11 năm sản phẩm của Organik Đà Lạt mới được cấp chứng chỉ. Nói lên điều này để thấy rằng sản xuất sản phẩm hữu cơ không đơn giản. Hiện nay một quy trình sản xuất hữu cơ phải mất ít nhất 3 năm chuyển đổi từ đất sản xuất nông nghiệp bình thường. Cái khó của những người làm NNHC ở VN là sản lượng ít, chủng loại không đa dạng và không thể cung cấp liên tục trong năm. Những hạn chế này làm cho sản phẩm rất khó đưa ra thị trường vì người tiêu dùng cần sản phẩm đa dạng và liên tục”, ông Hùng chia sẻ.
Còn ông Nguyễn Đại Thắng, chủ trang trại chăn nuôi heo Bảo Châu, cho biết làm ra sản phẩm hữu cơ đã khó, bán được càng khó hơn. Người tiêu dùng không phân biệt được đâu là sản phẩm thường, đâu là sản phẩm hữu cơ, cũng không nhiều người hiểu được lợi ích của sản phẩm hữu cơ so với sản phẩm thường, trong khi giá bán lại cao hơn nên rất khó tiêu thụ. “Chúng tôi vừa đóng vai nông dân sản xuất, nhà bán hàng, nhân viên tiếp thị sản phẩm. Một người làm một việc đã khó nay lại phải kiêm nhiệm cùng lúc nhiều việc nên thật sự là rất khó khăn”, ông Thắng nói.
Cần chính sách đồng bộ
Tại hội thảo, Thứ trưởng Bộ KH-CN Trần Quốc Khánh nhìn nhận để thúc đẩy NNHC phát triển cần phải có chính sách đồng bộ. “Chính sách thiếu là điểm yếu của chúng ta hiện nay”, ông Khánh nói và cho rằng trước hết cần rà soát lại đất đai xem khu vực nào chưa bị ô nhiễm, có thể sản xuất được sản phẩm hữu cơ. Bên cạnh đó xây dựng chính sách hỗ trợ, hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn NNHC và đặc biệt là hình thành chuỗi liên kết sản xuất và tiêu thụ. Tương tự, Thứ trưởng Bộ NN-PTNT Trần Thanh Nam cho rằng cơ chế chính sách cho phát triển NNHC đã có nhưng chưa hoàn chỉnh, cần bổ sung. “Chúng tôi sẽ sẵn sàng ngồi lại với doanh nghiệp để cùng nhau tìm cách thúc đẩy phát triển nền NNHC”, ông Nam nói.
TS Võ Minh Khải, Tổng giám đốc Công ty Viễn Phú, lưu ý chính sách cho NNHC phải ở tầm quốc gia, mang tính đột phá để chuyển dần nền sản xuất từ hóa học hiện nay sang nền sản xuất thân thiện với môi trường. Do phải mất ít nhất 3 năm chuyển đổi từ đất sản xuất nông nghiệp bình thường sang sản xuất hữu cơ, nên các chính sách về đất đai và tín dụng phải dài hơn so với các doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp thông thường, lãi suất vay phải thấp hơn. Kèm theo đó là các chính sách về thuế, phí cũng phải được ưu đãi hợp lý...
Nhiều chuyên gia và doanh nghiệp bổ sung NNHC không chấp nhận sản phẩm có nguồn gốc biến đổi gien - GMO, chính vì vậy cần phải có chính sách về giống cây trồng vật nuôi phù hợp. Chính sách phát triển nghiên cứu khoa học, sản xuất các chế phẩm sinh học phục vụ chăm sóc cây trồng vật nuôi; các chính sách liên kết phát triển sản xuất với tiêu thụ, thu hoạch, bảo quản... cũng cần được tính toán cụ thể.

Thứ Sáu, 13 tháng 5, 2016

Việt Nam có rau hữu cơ sạch, thịt sạch, nhưng đa phần đều mang đi xuất khẩu

Các chuyên gia và doanh nghiệp nhận định rằng Việt Nam đang có nhiều thuận lợi để phát triển nền nông nghiệp hữu cơ (hay còn gọi là organic) với các sản phẩm rau, thịt sạch không dùng thuốc trừ sâu và chất tạo nạc nhưng do rào cản về cơ chế chính sách cũng như thói quen tiêu dùng nên hiện nay sản phẩm organic đa phần không được tiêu thụ nội địa mà chủ yếu để xuất khẩu.


Đây là ý kiến tại hội thảo “Nhận diện sản phẩm nông nghiệp organic Việt Nam” do Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn phối hợp với Viện kinh tế Nông nghiệp hữu cơ (VOAEI) tổ chức ngày 12/5 tại TPHCM.
Theo VOAEI, Việt Nam hiện đang đương đầu với những thách thức lớn do tình trạng sử dụng thuốc trừ sâu, thuốc kích thích tăng trưởng và hóa chất độc hại trong sản xuất nông nghiệp, chế biến thực phẩm.
Chưa kể, tình trạng ô nhiễm môi trường sống đang có những tác động xấu đến chất lượng thực phẩm, đến sức khỏe, sự an toàn, niềm tin và cuộc sống người tiêu dùng. Vì thế, hiện nay người tiêu dùng ngày càng có xu hướng tìm mua và ưu tiên sử dụng sản phẩm có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng, chất lượng đảm bảo và có thương hiệu uy tín trên thị trường.
Trước tình thế đó, việc định hướng phát triển nền nông nghiệp sạch, đảm bảo an toàn thực phẩm cho thị trường trong nước và thị trường xuất khẩu trong xu thế hội nhập thế giới là một yêu cầu tất yếu để đáp ứng hài hòa nhu cầu phát triển kinh tế, môi trường và xã hội.
Theo xu hướng đó, nông nghiệp organic được xem là một lĩnh vực mới nổi ở Việt Nam, nhưng hứa hẹn hiệu quả kinh doanh lớn hơn và cơ hội phát triển tốt hơn trong tương lai.
Trong hơn 10 năm qua, nhiều doanh nghiệp (DN) đi theo hướng nông nghiệp organic đã có nhiều sản phẩm hữu cơ được chứng nhận quốc tế từ rau củ, quả, tôm cá, gạo, trà, dầu dừa… Tuy nhiên, phần lớn các sản phẩm này xuất khẩu sang các nước Châu Âu, Châu Mỹ... chứ chưa có mặt nhiều ở thị phần nội địa. Vì sao vậy?
Dưới đây là một số lí do:
Thứ nhất: giá cao, kén khách
Giá thành các sản phẩm nông nghiệp hữu cơ thường khá cao so với sản phẩm thông thường cùng loại, rất kén người mua nên vẫn chưa được người tiêu dùng trong nước biết nhiều. Chỉ đến khi vấn đề thực phẩm bẩn, chất cấm được sử dụng trong chăn nuôi, trồng trọt, chế bến, sản xuất… được báo động, sản phẩm nông nghiệp organic mới bắt đầu được người tiêu dùng tìm đến.
Ông Nguyễn Bá Hùng – Giám đốc Công ty TNHH Organik Đà Lạt cho biết, khi nguồn thực phẩm trong nước còn nhiều hạn chế về chất lượng, nhu cầu sử dụng sản phẩm rau hữu cơ (organic) ngày càng tăng cao. Phương pháp sản xuất nông nghiệp hữu cơ sẽ góp phần vào sản xuất sản phẩm rau quả không có dư lượng hóa học, đảm bảo sức khỏe người sản xuất và người tiêu dùng, hạn chế việc gây ô nhiễm môi trường.
“Lượng đơn hàng xuất khẩu rất lớn, có doanh nghiệp đặt chúng tôi 8 container ngò gai hữu cơ mỗi tuần để xuất khẩu vào Nhật Bản nhưng công ty không đủ hàng cung cấp. Doanh thu từ các sản phẩm rau chức năng đạt chuẩn organic như cà rốt baby, củ cải baby… cũng có thể đạt 500.000 – 1 triệu USD/ha”, ông Hùng thông tin.
Trong khi đó, để đáp ứng nhu cầu xuất khẩu nông sản hữu cơ sang Đức, Công ty TNHH Hưng Thịnh (Tây Ninh) đã ký kết hợp tác với một đối tác nước ngoài, có văn phòng tại An Giang. Theo đó, nông trại rộng 1.500 ha của Hưng Thịnh sẽ được đầu tư nuôi cá và tôm đạt tiêu chuẩn organic để cung cấp cho thị trường Đức.
Hay như ông Võ Minh Khải – Giám đốc Công ty Viễn Phú (Cà Mau) cho biết, sắp tới đây sẽ có thêm 7 doanh nghiệp Nhật Bản đến hợp tác với Viễn Phú để phát triển các sản phẩm gạo, tôm, cá hữu cơ để cung cấp cho thị trường Nhật. Phía Nhật sẽ hỗ trợ cây, con giống chất lượng, quy trình kỹ thuật…
Thứ hai: quy mô sản xuất quá nhỏ
Dù nhu cầu thị trường rất lớn, nhưng theo ông Trần Quốc Khánh, Thứ trưởng Bộ KHCN, diện tích sản xuất nông nghiệp hữu cơ hiện còn khiêm tốn, chỉ mới đạt khoảng 23.000ha, chiếm 0,2% diện tích sản xuất nông nghiệp cả nước.
Thứ 3: Thiếu đơn vị kiểm nghiệm, thiếu quy hoạch và cơ chế hỗ trợ
Dù sản xuất hữu cơ đang được nhiều doanh nghiệp quan tâm đầu tư, tuy nhiên, hiện nay nước ta vẫn chưa có tổ chức nào cấp giấy chứng nhận cho sản phẩm hữu cơ. Việc chứng nhận các sản phẩm nông nghiệp hữu cơ hiện nay phải phụ thuộc hoàn toàn vào các tổ chức nước ngoài như Control Union, IMO, JAS…
Tại hội thảo, nhiều DN tham gia sản xuất nông nghiệp oganic kiến nghị Nhà nước và Chính phủ cần đồng hành hơn với DN để ngành này phát triển mạnh. Cụ thể, cần có cơ chế chính sách rõ ràng trong hỗ trợ ưu đãi khi nông dân, DN tham gia nông nghiệp oganic như: nông dân canh tác hữu cơ sẽ được hưởng lợi gì về vay vốn ngân hàng (thời gian dài hơn và lãi suất thấp hơn) so với canh tác vô cơ. Tương tự, DN tham gia nông nghiệp hữu cơ được hưởng lợi gì, ưu đãi gì khi phân phối sản phẩm, vay vốn, xúc tiến thương mại…
Mặt khác, cần có sự quy hoạch cụ thể vùng sản xuất nông nghiệp hữu cơ để tránh sự ô nhiễm chéo của vùng sản xuất vô cơ. Bên cạnh đó, phải có sự phân biệt rõ thế nào là VietGab, Golbal Gap, Organic trong sản xuất và cấp giấy chứng nhận để người tiêu dùng nhận diện.
Xây dựng cơ chế thưởng, phạt rõ ràng trong sản xuất hữu cơ và vô cơ nhằm tạo động lực cho người nông dân, DN tham gia mô hình sản xuất nông nghiệp oganic. Có như vậy, việc sản xuất nông nghiệp từ vô cơ sẽ chuyển dịch dần so mô hình nông nghiệp hữu cơ, tạo được sự cạnh tranh khi hội nhập.

Thứ Năm, 12 tháng 5, 2016

Nông nghiệp sạch, an toàn là yếu tố quyết định trong xuất khẩu

KTNT - Nông nghiệp hữu cơ (organic) là lĩnh vực mới nổi ở Việt Nam nhưng hứa hẹn sẽ phát triển tốt trong tương lai.
Đó là nhận định của nhiều đại biểu tại hội thảo “Nhận diện sản phẩm nông nghiệp organic Việt Nam - xu hướng phát triển và xúc tiến liên kết sản xuất tiêu thụ” do Cục Chế biến Nông lâm Thủy Hải sản và Nghề Muối - Bộ NN&PTNT tổ chức tại Tp.HCM ngày 12/5.
Nhiều chuyên gia cho rằng, để nông nghiệp sạch, an toàn phát triển lâu dài cần phải hướng tới xuất khẩu
Việc định hướng phát triển nền nông nghiệp sạch, đảm bảo an toàn thực phẩm cho thị trường trong nước và thị trường xuất khẩu trong hội nhập là yêu cầu tất yếu hiện nay. TS. Nguyễn Quốc Vọng (Đại học RMIT, Australia) đã cảnh báo rằng nông nghiệp Việt Nam đang đứng trước những thách thức vô cùng lớn.
Đó là an toàn vệ sinh thực phẩm và biến đổi khí hậu. Trong tình hình người tiêu dùng đang rất lo ngại về thực phẩm không an toàn hiện nay, việc phát triển nông nghiệp hữu cơ (organic) là bước đi cần thiết và kịp thời cho nông nghiệp Việt Nam.
Việt Nam hiện đang xuất khẩu rau quả đến 40 quốc gia và vùng lãnh thổ. Trong 5 thị trường xuất khẩu rau quả lớn nhất của Việt Nam, ngoại trừ Trung Quốc thì Nhật Bản, Mỹ, Nga và Hàn Quốc đều là những thị trường lớn có yêu cầu khắt khe về an toàn vệ sinh thực phẩm (phải áp dụng Quy trình sản xuất nông nghiệp tốt GAP).
Còn ở trong nước, nhiều người tiêu dùng đã rất quan ngại về vệ sinh an toàn thực phẩm. Điều đó đòi hỏi để cung cấp một thị trường trong nước và xuất khẩu to lớn như vậy (năm 2015 xuất khẩu rau quả đạt 2,2 tỷ USD, tăng trưởng gần 50%) thì yêu cầu trước tiên phải đặt ra là nông sản Việt buộc phải đảm bảo an toàn, sạch.
Theo TS. Vọng, nông nghiệp hữu cơ cần cổ suý ở đây không phải là nông nghiệp hữu cơ thời hoang sơ mà là một nền nông nghiệp luôn tuân thủ 4 nguyên tắc chính về sức khoẻ, sinh thái, công bằng và quan tâm.
Tuy nhiên, hiện trạng sản xuất nông nghiệp hữu cơ ở Việt Nam được cho là vẫn còn khiêm tốn. Theo Hiệp hội Nông nghiệp hữu cơ Việt Nam, năm 2010 cả nước có 21.000ha nông nghiệp hữu cơ. Đến năm 2012 thì diện tích tăng lên thành 23.400ha, chiếm 0,2% diện tích đất sản xuất nông nghiệp.
Trang trại hữu cơ của công ty CP Thương mại Dịch vụ Mùa ( tại Long Thành - Đồng Nai)
Hiện nay, sản phẩm hữu cơ vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu của thị trường vì giá cao hơn 50 - 200% so với không hữu cơ. Vì vậy, theo Cục Trồng trọt - Bộ NN&PTNT, việc mở rộng sản xuất nông nghiệp hữu cơ còn gặp nhiều thách thức do chưa có tổ chức nào cấp giấy chứng nhận cho sản phẩm hữu cơ, chính sách hỗ trợ cho sản xuất nông nghiệp hữu cơ vẫn chưa có.
Hơn nữa, việc phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp hữu cơ ở các địa phương còn rất hạn chế, các tiêu chuẩn cơ bản cho sản xuất và chế biến hữu cơ vẫn chưa rõ ràng. Đó là chưa kể, vì có mục đích xuất khẩu nên sản phẩm organic của Việt Nam phải được quốc tế công nhận. Điều này đòi hỏi phải xây dựng tiêu chuẩn sản xuất nông nghiệp hữu cơ tốt, xây dựng các tổ chức chứng nhận độc lập và tổ chức cơ chế quản lý.
Thế nhưng, điều đáng lo lắng hiện nay mà ngành nông nghiệp sạch của Việt Nam đang phải đương đầu chính là tình trạng lạm dụng thuốc bảo vệ thực vật, chất kích thích tăng trưởng và hoá chất độc hại trong sản xuất nông nghiệp, chế biến thực phẩm.
Do đó, người tiêu dùng băn khoăn là làm sao để nông sản Việt được an toàn để đạt mức tăng trưởng cao khi xuất khẩu. Giới chuyên gia cho rằng, phải xây dựng Quy trình sản xuất nông nghiệp tốt cho từng ngành hàng và sau đó cần tổ chức cơ chế quản lý.
Về quy trình sản xuất nông nghiệp tốt, Việt Nam đã ban hành 4 quy trình VietGAP cho rau quả tươi, chè búp tươi, lúa gạo, cà phê và 8 quy trình chăn nuôi tốt VietGAHP cho bò sữa, bò thịt, dê sữa, dê thịt, lợn, gà, ngan/vịt và ong. Nếu áp dụng các quy trình VietGAP này một cách nghiêm chỉnh, nông sản Việt sẽ an toàn, sạch.
TS. Nguyễn Quốc Vọng cho rằng: vì nông sản là kết quả của một chuỗi sản xuất từ nông trại đến bàn ăn, gồm các khâu: gieo hạt, chăm sóc ngoài đồng, thu hoạch, sau thu hoạch, sơ chế, bảo quản, giao thông chuyên chở, phân phối đến cửa hàng, để cuối cùng đến tay người tiêu dùng. Cho nên, các nguy cơ ô nhiễm về hoá chất, sinh học và vật lý có thể xảy ra ở bất cứ khâu nào trong chuỗi. Cơ chế quản lý an toàn thực phẩm do vậy phải là cơ chế quản lý theo chuỗi sản xuất. Thực tế cho thấy, việc kiểm tra từng khâu tuy cần thiết nhưng chỉ là một công đoạn nhỏ trong một chuỗi sản xuất dài phức tạp, nên phải gom về một mối, như một dàn nhạc cần một nhạc trưởng.
Trong khi đó, việc phân bổ trách nhiệm về an toàn thực phẩm cho nhiều bộ ngành khác nhau mà không có một đầu mối quản lý sẽ tạo nên những khác biệt trong tiêu chuẩn, phương pháp đo lường. Chính các khoảng hở giữa các khâu trong chuỗi đã đưa đến tình trạng đùn đẩy trách nhiệm, không bộ ngành nào nhận lỗi về phía mình.
Nguồn: Kinh tế nông thôn

Mở rộng cửa cho thực phẩm hữu cơ vào siêu thị

Đại diện hệ thống siêu thị Saigon Co.op cho biết, sẵn sàng tiếp nhận thực phẩm hữu cơ vào kênh bán lẻ để tăng độ phủ sản phẩm chất lượng cao này.
Ông Phạm Trung Kiên – Phó tổng giám đốc Saigon Co.op cho hay, siêu thi sẽ sẽ chủ động liên kết hợp tác, ứng vốn, phối hợp cùng các nhà cung cấp tiếp thị sản phẩm hữu cơ chất lượng cao đến khách hàng trên toàn hệ thống bán lẻ của doanh nghiệp. Riêng tại mỗi siêu thị sẽ dành một khu vực nhận diện dành riêng cho các sản phẩm hữu cơ chất lượng cao. 
Theo của các chuyên gia nông nghiệp, thực phẩm hữu cơ đang trở thành một trào lưu tiêu dùng cũng như đầu tư, khởi nghiệp tại Việt Nam thời điểm này.
Ngoài những doanh nghiệp có thị phần ổn định, hiện nhiều doanh nghiệp có tiềm lực tài chính lớn như: Oganic Life, Thành Thành Công, TH True Milk… cũng bắt đầu rót vốn đầu tư, coi đó như một xu hướng của ngành nông nghiệp hiện đại.
Tuy nhiên, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Trần Thanh Nam cũng thừa nhận, ngành nông nghiệp chưa có tiêu chuẩn hay khung pháp lý quy định sản xuất và kinh doanh thực phẩm hữu cơ, nên hạn chế thúc đẩy các doanh nghiệp, tổ chức phát triển sản phẩm.
Mo rong cua cho thuc pham huu co vao sieu thi hinh anh 1
Đối tượng tiêu dùng thực phẩm hữu cơ sẵn sàng trả thêm tiền để mua những sản phẩm thực sự sạch gắn với bảo vệ môi trường.
 Ảnh chụp tại trang trại đạt chứng nhận hữu cơ USDA và EU của Hệ thống phân phối thực phẩm hữu cơ Organica (www.thucphamhuuco.vn)
. Ảnh minh họa: N.Thiên
Theo bà Phạm Phương Thảo, chủ chuỗi cửa hàng Oganica, đang có tình trạng người làm hữu cơ không biết bán đi đâu, trong khi trên thị trường lại hiếm hàng. Nhà nước cần xây dựng khung pháp lý cụ thể về thực phẩm hữu cơ, để vừa khuyến khích sản xuất cũng như bảo vệ các đơn vị kinh doanh. Hiện tại, cả nước chỉ có khoảng 10 đơn vị được cấp chứng nhận hữu cơ từ các tổ chức uy tín trên thế giới, nên chủng loại sản phẩm rất khiêm tốn. Trong khi đó, nhiều người nói sản xuất hữu cơ nhưng lại không có gì đảm bảo nên các công ty không dám bán hàng.
Sản phẩm hữu cơ được xem là những sản phẩm có tính năng ưu việt, an toàn như: không có thuốc trừ sâu, tươi ngon hơn, có lợi cho sức khỏe, không biến đổi gen,… Quá trình sản xuất sản phẩm này hiện gặp nhiều khó khăn, chi phí đầu tư cao, tiêu chuẩn chất lượng cũng chưa phân định rõ ràng nên chưa thu hút nông dân chuyển từ sản xuất truyền thống sang lĩnh vực này.
Tại hội thảo “Nhận diện sản phẩm organic Việt Nam – phát triển và xúc tiến liên kết tiêu thụ” tổ chức ngày 12/5 tại TP HCM, nhiều chuyên gia trong lĩnh vực nông nghiệp cho rằng, để thu hút đầu tư phát triển sản phẩm hữu cơ, ngành nông nghiệp cần có chính sách ưu đãi, như tạo quỹ đất, đào tạo kỹ thuật, giảm thuế, hỗ trợ kênh phân phối…
Nguồn: ZIng