Hiển thị các bài đăng có nhãn Nông sản hữu cơ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nông sản hữu cơ. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 7 tháng 6, 2016

Khan hiếm sản phẩm nông sản hữu cơ

Thời gian qua, Việt Nam đã được sự hỗ trợ của nhiều tổ chức quốc tế cho phát triển nông nghiệp hữu cơ, điển hình là tổ chức phát triển nông nghiệp châu Á của Cơ quan Phát triển Đan Mạch (ADDA) từ năm 2004 đến 2012.

Ngày 6.6 tại Hà Nội, Hiệp hội Nông nghiệp hữu cơ Việt Nam đã tổ chức hội thảo về nông nghiệp hữu cơ. Tại hội thảo, nhiều ý kiến cho rằng, hiện nước ta đang rơi vào tình trạng khan hiếm nông sản hữu cơ.
Ông TS Hà Phúc Mịch – Chủ tịch Hiệp hội Nông nghiệp hữu cơ Việt Nam cho biết: “Để có sản phẩm hữu cơ chất lượng đến tay người tiêu dùng là điều không hề dễ dàng. Nông nghiệp hữu cơ dù đang trên đà phát triển tốt, tuy nhiên các sản phẩm nông sản hữu cơ rất khan hiếm. Năm 2010, cả nước có 21.000ha nông nghiệp hữu cơ. Hai năm sau, diện tích cũng chỉ tăng thêm được 2.400ha, lên thành 23.400ha, chỉ bằng 0,2% diện tích đất sản xuất nông nghiệp. Hiện nay, diện tích canh tác, nuôi trồng hữu cơ của nước ta đạt hơn 43.010ha; tập trung tại một số tỉnh thành”.
 khan hiem san pham nong san huu co hinh anh 1
Sản xuất các mặt hàng nông sản hữu cơ đang là xu hướng được nông dân và người tiêu dùng đón nhận. Ảnh: I.T
Thời gian qua, Việt Nam đã được sự hỗ trợ của nhiều tổ chức quốc tế cho phát triển nông nghiệp hữu cơ, điển hình là tổ chức phát triển nông nghiệp châu Á của Cơ quan Phát triển Đan Mạch (ADDA) từ năm 2004 đến 2012.

TS Lê Văn Hưng – Hiệp hội Nông nghiệp hữu cơ Việt Nam cho biết: “Dự án triển khai trên 9 tỉnh ở phía Bắc Việt Nam trên các đối tượng cây trồng là lúa-rau-vải-cam-bưởi-chè và thủy sản là cá. Dự án được ADDA-Hội Nông dân Việt Nam thực hiện đã giúp cho người nông dân 9 tỉnh phía bắc Việt Nam lần đầu tiên được biết về nông nghiệp hữu cơ, hiểu các nguyên tắc, phương pháp canh tác hữu cơ. Hiện nay, các nhóm nông dân sản xuất hữu cơ đang chuyển đổi chủ yếu là rau, gà và bưởi. Sản lượng rau hữu cơ PGS (hệ thống giám sát, đảm bảo chất lượng) cung cấp cho thị trường Hà Nội đến nay đạt 350 tấn/năm, tăng gấp đôi so với 2012, tại Hà Nội có 50 cửa hàng có chứng nhận PGS.

Nông dân huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình từ lâu đã có kinh nghiệm phát triển nông nghiệp hữu cơ từ các dự án do ADDA tài trợ. Chị Phùng Thị Lan - Chủ tịch Hội Nông dân huyện Lương Sơn thông tin: “Hội Nông dân huyện đã chỉ đạo và thành lập 18 nhóm tổ hợp tác sản xuất sản phẩm hữu cơ. Các nhóm này hoạt động dịch vụ, tư vấn, hỗ trợ nông dân có hiệu quả gồm là 51 mô hình về dịch vụ phân bón, vật tư nông nghiệp, giống vốn, tư vấn tập huấn KHKT cho nông dân, trồng lúa, trồng gấc, trồng rau hữu cơ, trồng hoa cúc/hồng, bưởi Diễn, nhãn, bò sữa, nuôi vịt bầu Bến... với 6.030 hội viên tham gia. Mô hình này đã được nhân rộng trên địa bàn, một số nơi đã ứng dụng thành công nâng hiệu quả kinh tế có thu nhập từ trên 50 triệu đồng/ha/năm lên tới trên 200 triệu đồng/ha/năm, nông dân phấn khởi đầu tư cho sản xuất nông nghiệp hữu cơ”.

Nguồn: Đình Thắng, Báo Nông thôn ngày nay


Thứ Tư, 18 tháng 5, 2016

Hà Nội: Nông dân miệt mài với vườn rau hữu cơ "5 không"

(VnMedia) - Trong khi thực phẩm bẩn đang đe dọa sức khỏe người tiêu dùng thì tại thôn Song Phương, Hoài Đức, nông dân trồng rau vẫn chăm chỉ canh tác vườn rau hữu cơ "5 không".
Ruộng rau "5 không" mà nông dân xã Song Phương đang áp dụng là không dùng phân bón hóa học, không sử dụng thuốc trừ sâu độc hại, không có chất biến đổi gen, không chất kích thích sinh trưởng và không sử dụng thuốc diệt cỏ.
TH1image002.jpg
Vùng rau hữu cơ ở Song Phương
Phương thức trồng rau hữu cơ này đang được đánh giá là sản phẩm an toàn tuyệt đối cho cả người sản xuất và người tiêu dùng. Vùng sản xuất rau hữu cơ đòi hỏi phải bảo đảm theo đúng 24 nguyên tắc của bộ tiêu chuẩn quốc tế IFOAM.
Trong suốt quá trình sinh trưởng, cây rau chỉ được bón duy nhất loại phân hữu cơ đã được ủ mục trong khoảng 2 tháng, tuyệt đối không sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, thuốc kích thích, phân bón hóa học, biến đổi gen hay thuốc kích thích tăng trưởng… Nếu có sâu bệnh, người trồng rau chỉ dùng các loại thảo mộc như tỏi, gừng đem giã và trộn với rượu rồi phun cho cây.
Theo bác Nguyễn Văn Trường – nông dân trồng rau xã Song phương, thế mạnh của mô hình sản xuất rau hữu cơ là trong quy trình sản xuất phải tuân thủ nguyên tắc vàng “5 không”, không dùng phân bón hóa học, không sử dụng thuốc trừ sâu độc hại, không có chất biến đổi gen, không chất kích thích sinh trưởng và không sử dụng thuốc diệt cỏ nên thân thiện với môi trường, đảm bảo sức khỏe cho người tiêu dùng. Vấn đề sâu bệnh được bà con xử lý bằng các chế phẩm sinh học, dùng thảo mộc, bẫy bả, trồng hoa dẫn dụ hoặc bắt thủ công.
Nét nổi bật nhất của trồng rau hữu cơ là không sử dụng bất kỳ loại thuốc hay phân bón hóa học nào mà được xử lý bằng các biện pháp sinh học. Theo đó, mỗi ruộng rau sẽ được trồng xen kẽ các loại cây hoa như cúc vạn thọ, hướng dương làm chất “dẫn dụ” bướm, côn trùng bay đến đẻ trứng sâu vào. Dưới mỗi lá hướng dương có thể có hàng nghìn trứng sâu.
Đối với các loại rau cho quả thì người dân áp dụng đèn dẫn dụ, là những bình nhựa bên trong có hợp chất sinh học để thu hút o­ng, ruồi vàng... vào trong đó. Những chất này sẽ tiêu diệt chúng nhưng an toàn tuyệt đối với con người và rau. Phân bón dùng cho cây rau cũng khá cầu kỳ. Phân được ủ theo quy trình: một lớp phân chuồng sau đó đến một lớp rơm rồi một lớp cỏ. Phân phải ủ đủ 3 tháng để tiêu diệt hết mầm bệnh, vi khuẩn hại rau. Và cứ 45 ngày lại phải đảo phân lại từ đầu để cho phân mục đều. Anh Hưng cho biết: “Nhiệt độ cao nhất trong đống phân có thể đạt tới 200ºC. Do đó sẽ diệt được toàn bộ mầm bệnh”.
Bác nông dân Lê Văn Nhất cho biết, trồng rau hữu cơ, các giống rau trồng có nguồn gốc đảm bảo và tuyệt đối không sử dụng giống biến đổi gen. Thứ hai, quá trình trồng và chăm sóc rau không sử dụng phân đạm và phân bón hóa học. Thứ ba, trong trường hợp sâu bệnh quá nhiều chỉ dùng các chế phẩm sinh học có nguồn gốc thiên nhiên như ớt, xả, gừng,… để phun phòng trừ, xua đuổi côn trồng tới hại rau, tuyệt đối không sử dụng thuốc bảo vệ thực vật.
Việc tuân thủ những nguyên tắc vàng này đã tạo ra những mớ rau chất lượng, an toàn mang đến một lợi nhuận đáng kinh ngạc cho  các gia đình và bà con nông dân xã Song Phương.
Được biết, xã Song Phương, Hoài Đức là một trong nhiều vùng trồng rau hữu cơ của Hà Nội. Nhờ làm tốt công tác tuyên truyền, vận động xã viên tham gia, cùng với công tác lựa chọn khu vực trồng trọt, thẩm định thổ nhưỡng, nguồn nước… nên số lượng người nông dân tham gia trồng rau hữu cơ ngày càng lớn mạnh. Mô hình đã nhanh chóng mang lại hiệu quả kinh tế cao và thể hiện được ưu điểm vượt trội về chất lượng, bình quân thu nhập đạt 4,5 triệu đồng/người/tháng. Diện tích sản xuất rau hữu cơ tăng dần qua các năm.
Khánh An

Thứ Hai, 16 tháng 5, 2016

Đột phá vào nông nghiệp hữu cơ nhằm nâng cao sức khỏe cộng đồng

Vừa qua, tại TP HCM, Bộ NN-PTNT và Bộ KH-CN đã chủ trì Hội thảo Nhận diện sản phẩm nông nghiệp hữu cơ (Organic) Việt Nam, xu hướng phát triển và xúc tiến liên kết sản xuất, tiêu thụ. ... 
Trồng rau hữu cơ ở trang trại Organica (huyện Long Thành, Đồng Nai) của Cty CP Thương mại Dịch vụ Mùa... đơn vị sở hữu thương hiệu thực phẩm hữu cơ ORGANICA 


Hội thảo này cho thấy nông nghiệp hữu cơ đã bắt đầu có được sự quan tâm, thúc đẩy phát triển của các bộ, ngành liên quan. 

Nhu cầu tăng cao 

Sản xuất nông nghiệp hữu cơ còn tương đối mới mẻ ở Việt Nam, quy mô cũng còn hạn chế. Nhưng đến thời điểm này đã có nhiều doanh nghiệp đầu tư vào sản xuất nông nghiệp hữu cơ, trong đó có những doanh nghiệp đã có được chứng nhận hữu cơ bởi các tổ chức quốc tế có uy tín. 

Có thể kể ra đây như Cty TNHH Liên doanh Organik Lâm Đồng chuyên sản xuất các loại rau, củ, quả, đã có chứng nhận hữu cơ của châu Âu; Viễn Phú Green Farm có chứng nhận hữu cơ của Mỹ và châu Âu, đang sản xuất các sản phẩm hữu cơ như gạo (năng lực sản xuất 1.000 tấn/năm), thủy sản (1.000 tấn/năm), rau quả (2.000 tấn/năm), nấm rơm (500 tấn/năm)…; Cty CP Trang trại Bảo Châu (Hòa Bình) được tổ chức EMRO (Nhật Bản) cấp chứng nhận thịt, cá rau hữu cơ đạt tiêu chuẩn Certified Green, là trang trại sạch nhất trong chăn nuôi lợn ở Việt Nam; Cty CP Thương mại Dịch vụ Mùa có chứng nhận hữu cơ của Mỹ và EU cho các sản phẩm rau củ quả nhiệt đới… 

Điều đáng ghi nhận là phần lớn các sản phẩm có chứng nhận hữu cơ đều đang được tiêu thụ tốt, có những sản phẩm chưa đáp ứng đủ nhu cầu của người tiêu dùng. Tuy nhiên, cũng có những sản phẩm còn ít nhiều gặp khó khăn, nhất là lúc mới ra sản phẩm. 

Ông Nguyễn Đại Thắng (Cty CP Trang trại Bảo Châu), cho biết, khi mới bắt đầu đưa sản phẩm ra thị trường Cty từng phải đi bán từng quả trứng, con gà, con lợn hữu cơ, bởi nhiều người tiêu dùng chưa có khái niệm thịt, trứng hữu cơ là như thế nào. Mất nhiều tháng trời gian nan gây dựng thị trường, sản phẩm chăn nuôi hữu cơ của Bảo Châu mới dần được tiêu thụ ổn định. Một số hệ thống siêu thị cũng đã bắt đầu quan tâm tới việc đưa nông sản hữu cơ vào bán trong các cửa hàng của mình. 

Ông Phạm Trung Kiên, Phó TGĐ Sài Gòn Co.op, cho biết hệ thống này đang chuẩn bị xây dựng những cửa hàng bán lẻ hướng tới đối tượng khách hàng là những người thu nhập cao. Vì thế, ở những cửa hàng này sẽ bán các loại nông sản chất lượng cao, sản xuất bền vững, hữu cơ. 

Không chỉ đáp ứng được cho nhu cầu tiêu thụ nông sản cao cấp của những người tiêu dùng có thu nhập khá, nhiều sản phẩm hữu cơ, sinh thái của Việt Nam đang được xuất khẩu tới những thị trường khó tính. Ông Antonie Bùi, đại diện Cty Binca (Đức), cho biết, Cty này đã xuất khẩu cá tra, tôm sinh thái của Việt Nam sang EU. Viễn Phú cũng đã xuất khẩu gạo hữu cơ ra nước ngoài… 

Theo ông Wouter Van Ravenhorst (Control Union), nhu cầu thực phẩm hữu cơ trên thế giới đang có mức tăng trưởng 10 - 15%/năm. Đến năm 2014, trên toàn thế giới đã có trên 43 triệu ha canh tác hữu cơ, với tổng giá trị sản phẩm là 72 tỷ USD. Chính vì vậy, hầu hết doanh nghiệp đang đầu tư sản xuất nông sản hữu cơ đều đang có kế hoạch mở rộng quy mô sản xuất. Theo ông Nguyễn Đại Thắng, Cty CP Trang trại Bảo Châu hiện đang có trong chuồng 5.000 con lợn hữu cơ, và phấn đấu đến cuối năm sẽ tăng đàn lên gấp đôi. Cty TNHH Liên doanh Organik Lâm Đồng đang có tham vọng xây dựng làng sản xuất hữu cơ ở chân núi Tà Pa (Tri Tôn, An Giang). Viễn Phú Green Farm đang mong muốn mở rộng vùng nguyên liệu hữu cơ ra vùng xung quanh với diện tích 10.000 ha, ngoài trồng trọt và thủy sản, sẽ tiến hành chăn nuôi gia súc, gia cầm hữu cơ. Viễn Phú cũng muốn xây dựng những cơ sở chế biến sâu sản phẩm hữu cơ như nhà máy chế biến bún, miến, phở, nui hữu cơ; nhà máy chế biến đồ uống, chức ăn hữu cơ; nhà máy chế biến bột dinh dưỡng hữu cơ. 

Khâu đột phá

 Tuy nhiên, việc phát triển sản xuất hữu cơ hiện đang gặp nhiều khó khăn, mà trước hết là về chính sách. Thứ trưởng Bộ NN-PTNT Trần Thanh Nam cho biết, dù Chính phủ đã có Quyết định 01/2012QĐ-TTg về một số chính sách hỗ trợ việc áp dụng Quy trình thực hành sản xuất nông nghiệp tốt trong nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản (trong đó có nông nghiệp hữu cơ), đã quan tâm tới nông nghiệp hữu cơ qua việc cho phép thành lập Hiệp hội Nông nghiệp hữu cơ, nhưng rõ ràng các chính sách hiện có chưa theo kịp với yêu cầu đầu tư, phát triển nông nghiệp hữu cơ mà các doanh nghiệp đang thực hiện. Do đó, ông Võ Minh Khải, TGĐ Viễn Phú Green Farm, cho rằng Chính phủ cần có những chính sách cụ thể mang tính đột phá, nhằm mục đích chuyển đổi dần từ nền canh tác hóa học sang sản xuất thân thiện với môi trường để cải thiện sức khỏe cộng đồng và đáp ứng xu thế hội nhập, cạnh tranh trên thị trường thế giới. 

Cũng theo ông Khải, cần có các chính sách nêu rõ sự khác biệt trong việc khuyến khích nông dân, trang trại, HTX, doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp thân thiện với môi trường với nông nghiệp sử dụng hóa học hiện nay. 

Thứ trưởng Bộ NN-PTNT Trần Thanh Nam, nhận định, do nhu cầu sử dụng nông sản hữu cơ trong nước và trên thế giới đang tăng cao, nên xu hướng đầu tư vào nông nghiệp hữu cơ của các doanh nghiệp đang khá rõ rệt. Sắp tới Bộ NN-PTNT và Bộ KH-CN sẽ lập tổ công tác đến tìm hiểu kỹ những thuận lợi, khó khăn của các doanh nghiệp làm nông sản hữu cơ, từ đó có những tham mưu thiết thực cho lãnh đạo 2 Bộ trong công tác quản lý, điều hành phát triển nông nghiệp hữu cơ. Bộ NN-PTNT sẽ rà soát lại các chính sách liên quan đến nông nghiệp hữu cơ để có những điều chỉnh cho phù hợp và bổ sung những chính sách mới tạo thuận lợi cho sự phát triển của nông nghiệp hữu cơ. 

Trong những chương trình XTTM sắp tới, Bộ NN-PTNT sẽ chú trọng quảng bá nông nghiệp, nông sản hữu cơ của Việt Nam ra với thế giới. Thứ trưởng Trần Thanh Nam nhấn mạnh Bộ NN-PTNT coi sản xuất hữu cơ sẽ là khâu đột phá trong sản xuất nông nghiệp ở nước ta trong những năm tới.... 

Nguồn: Nông nghiệp Việt Nam

Chủ Nhật, 15 tháng 5, 2016

Thu triệu USD từ sản phẩm organic

Nhiều doanh nghiệp sản xuất sản phẩm organic cho biết, hiện lượng cung không đủ cầu.
Tại hội thảo “Nhận diện sản phẩm nông nghiệp organic Việt Nam” do Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn kết hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ tổ chức tại TP HCM, ông Nguyễn Bá Hùng, Giám đốc Công ty TNHH Organik Đà Lạt cho biết, hiện nay nguồn thực phẩm sạch trong nước còn hạn chế, trong khi đó nhu cầu về sử dụng sản phẩm hữu cơ ngày càng tăng cao.
Cụ thể, tại công ty ông lượng đơn hàng xuất khẩu cung không đủ cầu, có doanh nghiệp đặt 8 container ngò gai hữu cơ mỗi tuần để xuất khẩu vào Nhật Bản nhưng công ty không đủ hàng. Riêng với các sản phẩm rau đạt chuẩn organic như cà rốt baby, củ cải baby… doanh thu có thể đạt từ 500.000 đến một triệu USD một ha.
thu-trieu-usd-tu-san-phm-organic
Gạo organic đang được nhiều thị trường nhập khẩu khó tính ưa chuộng. Ảnh: Hồng Châu.
Cũng cung cấp hàng xuất khẩu với số lượng lớn, Công ty TNHH Hưng Thịnh (Tây Ninh) đã ký kết hợp tác với một đối tác nước ngoài, có văn phòng tại An Giang. Theo đó, nông trại rộng 1.500ha của Hưng Thịnh sẽ được đầu tư nuôi cá và tôm đạt tiêu chuẩn organic để cung cấp cho thị trường Đức.
Chia sẻ với VnExpress, Công ty Viễn Phú (Cà Mau) cũng cho biết, gạo organic của công ty được nhiều thị trường nhập khẩu như Anh, Nga, Singapore, Pháp, Đức ưa chuộng. Đối với thị trường trong nước, mặc dù tỷ lệ tiêu thụ không cao nhưng mặt hàng này cũng đang gia tăng lượng khách hàng mỗi ngày.
Sắp tới, công ty sẽ có thêm 7 doanh nghiệp Nhật Bản đến hợp tác cùng phát triển các sản phẩm gạo, tôm, cá hữu cơ để cung cấp cho thị trường Nhật. Phía Nhật sẽ hỗ trợ cây, con giống chất lượng, quy trình kỹ thuật…
Hiện công ty có tới 11 sản phẩm thuộc nhiều dòng khác nhau, trong đó, gạo mầm đen gaba hữu cơ có giá 100.000 đồng một kg, các sản phẩm còn lại dao động 50.000-70.000 đồng.
“Hiện nay chúng tôi xuất khẩu 70%, 30% còn lại bán cho thị trường trong nước. Nhiều đơn hàng xuất khẩu không đủ cung ứng, đôi khi tôi muốn mở rộng canh tác nhưng vì thấy Nhà nước vẫn chưa có chính sách cụ thể cho canh tác gạo hữu cơ nên chưa thể đẩy mạnh”, ông Khải chia sẻ.
Mặc dù thấy tiềm năng của sản phẩm hữu cơ khá lớn, nhưng hầu hết các doanh nghiệp trồng và kinh doanh sản phẩm hữu cơ vẫn còn nhiều khó khăn khi mà nguồn vốn, quỹ đất cũng như vùng quy hoạch trong nước còn manh mún. Theo Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Trần Quốc Khánh, hiện diện tích sản xuất nông nghiệp hữu cơ mới khoảng 23.000ha, chiếm 0,2% diện tích sản xuất nông nghiệp cả nước.
Sắp tới, để hỗ trợ người dân và doanh nghiệp, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn sẽ cùng Bộ Khoa học và Công nghệ thành lập một tổ công tác chuyên hỗ trợ, phát triển hoạt động sản xuất nông nghiệp hữu cơ. Tổ công tác này sẽ đến từng doanh nghiệp để tìm hiểu khó khăn và đưa ra hướng giải quyết hợp lý.
Bên cạnh đó, tháng 8 tới, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn sẽ có chuyến công tác qua châu Âu, Nhật Bản… để tìm kiếm đối tác, rồi phân bổ về cho các địa phương có thực hiện nông nghiệp hữu cơ.
Nhìn nhận chung về hướng đi mới này, GS Võ Tòng Xuân cho rằng, đây là xu hướng của thế giới, càng ngày nhu cầu về thực phẩm tốt cho sức khỏe, sạch là mối quan tâm của toàn cầu. Thị trường này còn rộng mở và vô cùng lớn cho các doanh nghiệp Việt nắm bắt cơ hội đầu tư. Tuy nhiên, nếu không kiên trì, có bước đi đúng đắn và tính toán kỹ lưỡng thì doanh nghiệp dễ gặp thất bại.
Nguồn: vnexpress.net

Thứ Sáu, 13 tháng 5, 2016

Việt Nam có rau hữu cơ sạch, thịt sạch, nhưng đa phần đều mang đi xuất khẩu

Các chuyên gia và doanh nghiệp nhận định rằng Việt Nam đang có nhiều thuận lợi để phát triển nền nông nghiệp hữu cơ (hay còn gọi là organic) với các sản phẩm rau, thịt sạch không dùng thuốc trừ sâu và chất tạo nạc nhưng do rào cản về cơ chế chính sách cũng như thói quen tiêu dùng nên hiện nay sản phẩm organic đa phần không được tiêu thụ nội địa mà chủ yếu để xuất khẩu.


Đây là ý kiến tại hội thảo “Nhận diện sản phẩm nông nghiệp organic Việt Nam” do Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn phối hợp với Viện kinh tế Nông nghiệp hữu cơ (VOAEI) tổ chức ngày 12/5 tại TPHCM.
Theo VOAEI, Việt Nam hiện đang đương đầu với những thách thức lớn do tình trạng sử dụng thuốc trừ sâu, thuốc kích thích tăng trưởng và hóa chất độc hại trong sản xuất nông nghiệp, chế biến thực phẩm.
Chưa kể, tình trạng ô nhiễm môi trường sống đang có những tác động xấu đến chất lượng thực phẩm, đến sức khỏe, sự an toàn, niềm tin và cuộc sống người tiêu dùng. Vì thế, hiện nay người tiêu dùng ngày càng có xu hướng tìm mua và ưu tiên sử dụng sản phẩm có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng, chất lượng đảm bảo và có thương hiệu uy tín trên thị trường.
Trước tình thế đó, việc định hướng phát triển nền nông nghiệp sạch, đảm bảo an toàn thực phẩm cho thị trường trong nước và thị trường xuất khẩu trong xu thế hội nhập thế giới là một yêu cầu tất yếu để đáp ứng hài hòa nhu cầu phát triển kinh tế, môi trường và xã hội.
Theo xu hướng đó, nông nghiệp organic được xem là một lĩnh vực mới nổi ở Việt Nam, nhưng hứa hẹn hiệu quả kinh doanh lớn hơn và cơ hội phát triển tốt hơn trong tương lai.
Trong hơn 10 năm qua, nhiều doanh nghiệp (DN) đi theo hướng nông nghiệp organic đã có nhiều sản phẩm hữu cơ được chứng nhận quốc tế từ rau củ, quả, tôm cá, gạo, trà, dầu dừa… Tuy nhiên, phần lớn các sản phẩm này xuất khẩu sang các nước Châu Âu, Châu Mỹ... chứ chưa có mặt nhiều ở thị phần nội địa. Vì sao vậy?
Dưới đây là một số lí do:
Thứ nhất: giá cao, kén khách
Giá thành các sản phẩm nông nghiệp hữu cơ thường khá cao so với sản phẩm thông thường cùng loại, rất kén người mua nên vẫn chưa được người tiêu dùng trong nước biết nhiều. Chỉ đến khi vấn đề thực phẩm bẩn, chất cấm được sử dụng trong chăn nuôi, trồng trọt, chế bến, sản xuất… được báo động, sản phẩm nông nghiệp organic mới bắt đầu được người tiêu dùng tìm đến.
Ông Nguyễn Bá Hùng – Giám đốc Công ty TNHH Organik Đà Lạt cho biết, khi nguồn thực phẩm trong nước còn nhiều hạn chế về chất lượng, nhu cầu sử dụng sản phẩm rau hữu cơ (organic) ngày càng tăng cao. Phương pháp sản xuất nông nghiệp hữu cơ sẽ góp phần vào sản xuất sản phẩm rau quả không có dư lượng hóa học, đảm bảo sức khỏe người sản xuất và người tiêu dùng, hạn chế việc gây ô nhiễm môi trường.
“Lượng đơn hàng xuất khẩu rất lớn, có doanh nghiệp đặt chúng tôi 8 container ngò gai hữu cơ mỗi tuần để xuất khẩu vào Nhật Bản nhưng công ty không đủ hàng cung cấp. Doanh thu từ các sản phẩm rau chức năng đạt chuẩn organic như cà rốt baby, củ cải baby… cũng có thể đạt 500.000 – 1 triệu USD/ha”, ông Hùng thông tin.
Trong khi đó, để đáp ứng nhu cầu xuất khẩu nông sản hữu cơ sang Đức, Công ty TNHH Hưng Thịnh (Tây Ninh) đã ký kết hợp tác với một đối tác nước ngoài, có văn phòng tại An Giang. Theo đó, nông trại rộng 1.500 ha của Hưng Thịnh sẽ được đầu tư nuôi cá và tôm đạt tiêu chuẩn organic để cung cấp cho thị trường Đức.
Hay như ông Võ Minh Khải – Giám đốc Công ty Viễn Phú (Cà Mau) cho biết, sắp tới đây sẽ có thêm 7 doanh nghiệp Nhật Bản đến hợp tác với Viễn Phú để phát triển các sản phẩm gạo, tôm, cá hữu cơ để cung cấp cho thị trường Nhật. Phía Nhật sẽ hỗ trợ cây, con giống chất lượng, quy trình kỹ thuật…
Thứ hai: quy mô sản xuất quá nhỏ
Dù nhu cầu thị trường rất lớn, nhưng theo ông Trần Quốc Khánh, Thứ trưởng Bộ KHCN, diện tích sản xuất nông nghiệp hữu cơ hiện còn khiêm tốn, chỉ mới đạt khoảng 23.000ha, chiếm 0,2% diện tích sản xuất nông nghiệp cả nước.
Thứ 3: Thiếu đơn vị kiểm nghiệm, thiếu quy hoạch và cơ chế hỗ trợ
Dù sản xuất hữu cơ đang được nhiều doanh nghiệp quan tâm đầu tư, tuy nhiên, hiện nay nước ta vẫn chưa có tổ chức nào cấp giấy chứng nhận cho sản phẩm hữu cơ. Việc chứng nhận các sản phẩm nông nghiệp hữu cơ hiện nay phải phụ thuộc hoàn toàn vào các tổ chức nước ngoài như Control Union, IMO, JAS…
Tại hội thảo, nhiều DN tham gia sản xuất nông nghiệp oganic kiến nghị Nhà nước và Chính phủ cần đồng hành hơn với DN để ngành này phát triển mạnh. Cụ thể, cần có cơ chế chính sách rõ ràng trong hỗ trợ ưu đãi khi nông dân, DN tham gia nông nghiệp oganic như: nông dân canh tác hữu cơ sẽ được hưởng lợi gì về vay vốn ngân hàng (thời gian dài hơn và lãi suất thấp hơn) so với canh tác vô cơ. Tương tự, DN tham gia nông nghiệp hữu cơ được hưởng lợi gì, ưu đãi gì khi phân phối sản phẩm, vay vốn, xúc tiến thương mại…
Mặt khác, cần có sự quy hoạch cụ thể vùng sản xuất nông nghiệp hữu cơ để tránh sự ô nhiễm chéo của vùng sản xuất vô cơ. Bên cạnh đó, phải có sự phân biệt rõ thế nào là VietGab, Golbal Gap, Organic trong sản xuất và cấp giấy chứng nhận để người tiêu dùng nhận diện.
Xây dựng cơ chế thưởng, phạt rõ ràng trong sản xuất hữu cơ và vô cơ nhằm tạo động lực cho người nông dân, DN tham gia mô hình sản xuất nông nghiệp oganic. Có như vậy, việc sản xuất nông nghiệp từ vô cơ sẽ chuyển dịch dần so mô hình nông nghiệp hữu cơ, tạo được sự cạnh tranh khi hội nhập.

Thứ Năm, 12 tháng 5, 2016

Nông nghiệp sạch, an toàn là yếu tố quyết định trong xuất khẩu

KTNT - Nông nghiệp hữu cơ (organic) là lĩnh vực mới nổi ở Việt Nam nhưng hứa hẹn sẽ phát triển tốt trong tương lai.
Đó là nhận định của nhiều đại biểu tại hội thảo “Nhận diện sản phẩm nông nghiệp organic Việt Nam - xu hướng phát triển và xúc tiến liên kết sản xuất tiêu thụ” do Cục Chế biến Nông lâm Thủy Hải sản và Nghề Muối - Bộ NN&PTNT tổ chức tại Tp.HCM ngày 12/5.
Nhiều chuyên gia cho rằng, để nông nghiệp sạch, an toàn phát triển lâu dài cần phải hướng tới xuất khẩu
Việc định hướng phát triển nền nông nghiệp sạch, đảm bảo an toàn thực phẩm cho thị trường trong nước và thị trường xuất khẩu trong hội nhập là yêu cầu tất yếu hiện nay. TS. Nguyễn Quốc Vọng (Đại học RMIT, Australia) đã cảnh báo rằng nông nghiệp Việt Nam đang đứng trước những thách thức vô cùng lớn.
Đó là an toàn vệ sinh thực phẩm và biến đổi khí hậu. Trong tình hình người tiêu dùng đang rất lo ngại về thực phẩm không an toàn hiện nay, việc phát triển nông nghiệp hữu cơ (organic) là bước đi cần thiết và kịp thời cho nông nghiệp Việt Nam.
Việt Nam hiện đang xuất khẩu rau quả đến 40 quốc gia và vùng lãnh thổ. Trong 5 thị trường xuất khẩu rau quả lớn nhất của Việt Nam, ngoại trừ Trung Quốc thì Nhật Bản, Mỹ, Nga và Hàn Quốc đều là những thị trường lớn có yêu cầu khắt khe về an toàn vệ sinh thực phẩm (phải áp dụng Quy trình sản xuất nông nghiệp tốt GAP).
Còn ở trong nước, nhiều người tiêu dùng đã rất quan ngại về vệ sinh an toàn thực phẩm. Điều đó đòi hỏi để cung cấp một thị trường trong nước và xuất khẩu to lớn như vậy (năm 2015 xuất khẩu rau quả đạt 2,2 tỷ USD, tăng trưởng gần 50%) thì yêu cầu trước tiên phải đặt ra là nông sản Việt buộc phải đảm bảo an toàn, sạch.
Theo TS. Vọng, nông nghiệp hữu cơ cần cổ suý ở đây không phải là nông nghiệp hữu cơ thời hoang sơ mà là một nền nông nghiệp luôn tuân thủ 4 nguyên tắc chính về sức khoẻ, sinh thái, công bằng và quan tâm.
Tuy nhiên, hiện trạng sản xuất nông nghiệp hữu cơ ở Việt Nam được cho là vẫn còn khiêm tốn. Theo Hiệp hội Nông nghiệp hữu cơ Việt Nam, năm 2010 cả nước có 21.000ha nông nghiệp hữu cơ. Đến năm 2012 thì diện tích tăng lên thành 23.400ha, chiếm 0,2% diện tích đất sản xuất nông nghiệp.
Trang trại hữu cơ của công ty CP Thương mại Dịch vụ Mùa ( tại Long Thành - Đồng Nai)
Hiện nay, sản phẩm hữu cơ vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu của thị trường vì giá cao hơn 50 - 200% so với không hữu cơ. Vì vậy, theo Cục Trồng trọt - Bộ NN&PTNT, việc mở rộng sản xuất nông nghiệp hữu cơ còn gặp nhiều thách thức do chưa có tổ chức nào cấp giấy chứng nhận cho sản phẩm hữu cơ, chính sách hỗ trợ cho sản xuất nông nghiệp hữu cơ vẫn chưa có.
Hơn nữa, việc phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp hữu cơ ở các địa phương còn rất hạn chế, các tiêu chuẩn cơ bản cho sản xuất và chế biến hữu cơ vẫn chưa rõ ràng. Đó là chưa kể, vì có mục đích xuất khẩu nên sản phẩm organic của Việt Nam phải được quốc tế công nhận. Điều này đòi hỏi phải xây dựng tiêu chuẩn sản xuất nông nghiệp hữu cơ tốt, xây dựng các tổ chức chứng nhận độc lập và tổ chức cơ chế quản lý.
Thế nhưng, điều đáng lo lắng hiện nay mà ngành nông nghiệp sạch của Việt Nam đang phải đương đầu chính là tình trạng lạm dụng thuốc bảo vệ thực vật, chất kích thích tăng trưởng và hoá chất độc hại trong sản xuất nông nghiệp, chế biến thực phẩm.
Do đó, người tiêu dùng băn khoăn là làm sao để nông sản Việt được an toàn để đạt mức tăng trưởng cao khi xuất khẩu. Giới chuyên gia cho rằng, phải xây dựng Quy trình sản xuất nông nghiệp tốt cho từng ngành hàng và sau đó cần tổ chức cơ chế quản lý.
Về quy trình sản xuất nông nghiệp tốt, Việt Nam đã ban hành 4 quy trình VietGAP cho rau quả tươi, chè búp tươi, lúa gạo, cà phê và 8 quy trình chăn nuôi tốt VietGAHP cho bò sữa, bò thịt, dê sữa, dê thịt, lợn, gà, ngan/vịt và ong. Nếu áp dụng các quy trình VietGAP này một cách nghiêm chỉnh, nông sản Việt sẽ an toàn, sạch.
TS. Nguyễn Quốc Vọng cho rằng: vì nông sản là kết quả của một chuỗi sản xuất từ nông trại đến bàn ăn, gồm các khâu: gieo hạt, chăm sóc ngoài đồng, thu hoạch, sau thu hoạch, sơ chế, bảo quản, giao thông chuyên chở, phân phối đến cửa hàng, để cuối cùng đến tay người tiêu dùng. Cho nên, các nguy cơ ô nhiễm về hoá chất, sinh học và vật lý có thể xảy ra ở bất cứ khâu nào trong chuỗi. Cơ chế quản lý an toàn thực phẩm do vậy phải là cơ chế quản lý theo chuỗi sản xuất. Thực tế cho thấy, việc kiểm tra từng khâu tuy cần thiết nhưng chỉ là một công đoạn nhỏ trong một chuỗi sản xuất dài phức tạp, nên phải gom về một mối, như một dàn nhạc cần một nhạc trưởng.
Trong khi đó, việc phân bổ trách nhiệm về an toàn thực phẩm cho nhiều bộ ngành khác nhau mà không có một đầu mối quản lý sẽ tạo nên những khác biệt trong tiêu chuẩn, phương pháp đo lường. Chính các khoảng hở giữa các khâu trong chuỗi đã đưa đến tình trạng đùn đẩy trách nhiệm, không bộ ngành nào nhận lỗi về phía mình.
Nguồn: Kinh tế nông thôn

Sản phẩm hữu cơ: Sản xuất đã khó, bán còn khó hơn

Việc sản xuất ra một sản phẩm đúng nghĩa "hữu cơ" là một quá trình khó khăn, đặc biệt trong bối cảnh thời tiết nhiệt đới, sâu bệnh thường xuyên xuất hiện như ở Việt Nam. Tuy nhiên, theo các trang trại, cái khó hơn là làm sao để bán được sản phẩm này trên thị trường. 
Ngày 12-5, tại TPHCM đã diễn ra Hội thảo nhận diện sản phẩm nông nghiệp Organic Việt Nam, xu hướng phát triển và xúc tiến liên kết sản xuất tiêu thụ do Cục chế biến Nông lâm thủy sản và nghề muối, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) tổ chức.
Một đại biểu dự hội thảo đang tham khảo sản phẩm hữu cơ  của hệ thống ORGANICA được giới thiệu sáng nay. Ảnh: NH

Theo ông Nguyễn Bá Hùng, Công ty TNHH liên doanh Organik Đà Lạt, Lâm Đồng, có khá nhiều thách thức trên con đường sản xuất nông nghiệp hữu cơ. Đầu tiên là nhu cầu sử dụng thực phẩm hữu cơ của khách hàng và đây là một phân khúc thị trường khá đặc biệt khi đòi hỏi chất lượng, mẫu mã giá trị cao. Bên cạnh đó, nhu cầu của khách hàng đối với thực phẩm hữu cơ khá đa dạng.
Ông Nguyễn Đại Thắng đến từ Công ty cổ phần trang trại Bảo Châu cho biết, làm ra sản phẩm hữu cơ đã khó, bán được cho người tiêu dùng càng khó hơn. Ông Thắng cũng chia sẻ, những ngày đầu tổ chức chăn nuôi hữu cơ, công ty ông phải đi bán lẻ từng cái trứng, từng ký thịt. Lý do một sản phẩm tốt gặp khó khăn đầu ra, theo ông, là do người tiêu dùng vẫn chưa biết hay phân biệt thế nào là sản phẩm hữu cơ.
Trước những khó khăn về đầu ra của các công ty, ông Nguyễn Quốc Vọng, Đại học RMIT, Úc, đưa ra thông tin khá tích cực đối với tiềm năng phát triển của sản phẩm nông nghiệp hữu cơ. Theo số liệu của ông Vọng, hiện tại, nông nghiệp hưu cơ chỉ chiếm 5% trong cơ cấu thị trường sản phẩm nông nghiệp thế giới và hiện có nhiều thị trường đang có nhu cầu tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp hữu cơ.
Úc là quốc gia  đang muốn hướng đến nông nghiệp hữu cơ với 11 triệu héc ta. Sản phẩm hữu cơ nhiều nhất là thịt bò, rau, củ, quả. Từ những kinh nghiệm phát triển nông nghiệp hữu cơ ở Úc, ông Vọng đưa ra lời tư vấn cho các doanh nghiệp rằng, muốn bán được sản phẩm hữu cơ, điều đầu tiên là chiếm được sự tin tưởng của khách hàng. Tuy công ty có thể sản xuất ra sản phẩm hữu cơ nhưng vấn đề là người tiêu dùng có tin tưởng vào công ty hay không mới là quan trọng, bán sản phẩm hữu cơ là bán niềm tin cho khách hàng của mình.
Đại diện Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Bộ Khoa học và Công nghệ cũng đưa ra những cam kết sẽ sớm hoàn thiện những quy định, chính sách để hỗ trợ các công ty sản xuất nông nghiệp hữu cơ. Cụ thể, những cơ quan quản lý này sẽ đề nghị các địa phương sớm có quy hoạch cho vùng sản xuất hữu cơ, nghiên cứu ban hành các quy trình sản xuất, chế biến sản phẩm hữu cơ cho từng đối tượng sản phẩm, phù hợp với địa phương nơi sản xuất…
Để hỗ trợ cho sản xuất nông nghiệp an toàn, Chính phủ có ban hành quyết định 01/2012 /QĐ-TTg về chính sách hỗ trợ việc áp dụng các thực hành nông nghiệp tốt trong nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản bao gồm sản phẩm hữu cơ. Tuy nhiên, theo các đại biểu, lâu nay sự hỗ trợ chỉ tập trung cho sản phẩm an toàn, như sản phẩm thực hành nông nghiệp tốt (GAP). Theo các đại biểu, đây cũng  là một trong những rào cản trong việc quảng bá cho sự phát triển nông nghiệp hữu cơ hiện nay.

Nguồn: TBKTSG online

Mở rộng cửa cho thực phẩm hữu cơ vào siêu thị

Đại diện hệ thống siêu thị Saigon Co.op cho biết, sẵn sàng tiếp nhận thực phẩm hữu cơ vào kênh bán lẻ để tăng độ phủ sản phẩm chất lượng cao này.
Ông Phạm Trung Kiên – Phó tổng giám đốc Saigon Co.op cho hay, siêu thi sẽ sẽ chủ động liên kết hợp tác, ứng vốn, phối hợp cùng các nhà cung cấp tiếp thị sản phẩm hữu cơ chất lượng cao đến khách hàng trên toàn hệ thống bán lẻ của doanh nghiệp. Riêng tại mỗi siêu thị sẽ dành một khu vực nhận diện dành riêng cho các sản phẩm hữu cơ chất lượng cao. 
Theo của các chuyên gia nông nghiệp, thực phẩm hữu cơ đang trở thành một trào lưu tiêu dùng cũng như đầu tư, khởi nghiệp tại Việt Nam thời điểm này.
Ngoài những doanh nghiệp có thị phần ổn định, hiện nhiều doanh nghiệp có tiềm lực tài chính lớn như: Oganic Life, Thành Thành Công, TH True Milk… cũng bắt đầu rót vốn đầu tư, coi đó như một xu hướng của ngành nông nghiệp hiện đại.
Tuy nhiên, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Trần Thanh Nam cũng thừa nhận, ngành nông nghiệp chưa có tiêu chuẩn hay khung pháp lý quy định sản xuất và kinh doanh thực phẩm hữu cơ, nên hạn chế thúc đẩy các doanh nghiệp, tổ chức phát triển sản phẩm.
Mo rong cua cho thuc pham huu co vao sieu thi hinh anh 1
Đối tượng tiêu dùng thực phẩm hữu cơ sẵn sàng trả thêm tiền để mua những sản phẩm thực sự sạch gắn với bảo vệ môi trường.
 Ảnh chụp tại trang trại đạt chứng nhận hữu cơ USDA và EU của Hệ thống phân phối thực phẩm hữu cơ Organica (www.thucphamhuuco.vn)
. Ảnh minh họa: N.Thiên
Theo bà Phạm Phương Thảo, chủ chuỗi cửa hàng Oganica, đang có tình trạng người làm hữu cơ không biết bán đi đâu, trong khi trên thị trường lại hiếm hàng. Nhà nước cần xây dựng khung pháp lý cụ thể về thực phẩm hữu cơ, để vừa khuyến khích sản xuất cũng như bảo vệ các đơn vị kinh doanh. Hiện tại, cả nước chỉ có khoảng 10 đơn vị được cấp chứng nhận hữu cơ từ các tổ chức uy tín trên thế giới, nên chủng loại sản phẩm rất khiêm tốn. Trong khi đó, nhiều người nói sản xuất hữu cơ nhưng lại không có gì đảm bảo nên các công ty không dám bán hàng.
Sản phẩm hữu cơ được xem là những sản phẩm có tính năng ưu việt, an toàn như: không có thuốc trừ sâu, tươi ngon hơn, có lợi cho sức khỏe, không biến đổi gen,… Quá trình sản xuất sản phẩm này hiện gặp nhiều khó khăn, chi phí đầu tư cao, tiêu chuẩn chất lượng cũng chưa phân định rõ ràng nên chưa thu hút nông dân chuyển từ sản xuất truyền thống sang lĩnh vực này.
Tại hội thảo “Nhận diện sản phẩm organic Việt Nam – phát triển và xúc tiến liên kết tiêu thụ” tổ chức ngày 12/5 tại TP HCM, nhiều chuyên gia trong lĩnh vực nông nghiệp cho rằng, để thu hút đầu tư phát triển sản phẩm hữu cơ, ngành nông nghiệp cần có chính sách ưu đãi, như tạo quỹ đất, đào tạo kỹ thuật, giảm thuế, hỗ trợ kênh phân phối…
Nguồn: ZIng

Nhận diện nông sản Organic Việt Nam

Nhiều doanh nghiệp đã có nhiều sản phẩm hữu cơ được chứng nhận quốc tế từ rau củ, quả, tôm cá, gạo, trà, dầu dừa… Tuy nhiên, phần lớn các sản phẩm này xuất khẩu sang các nước Âu, Mỹ... chứ chưa có mặt nhiều ở thị phần nội địa.

Sáng nay ngày 12/5, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam đã phối hợp với Viện kinh tế Nông nghiệp hữu cơ (VOAEI) tổ chức hội thảo “Nhận diện sản phẩm nông nghiệp Organic Việt Nam - Xu hướng phát triển và xúc tiến liên kết sản xuất tiêu thụ”.

Theo VOAEI, Việt Nam hiện đang đương đầu với những thách thức lớn do tình trạng sử dụng thuốc trừ sâu, thuốc kích thích tăng trưởng và hóa chất độc hại trong sản xuất nông nghiệp, chế biến thực phẩm. Chưa kể, tình trạng ô nhiễm môi trường sống đang có những tác động xấu đến chất lượng thực phẩm, đến sức khỏe, sự an toàn, niềm tin và cuộc sống người tiêu dùng. Vì thế, hiện nay người tiêu dùng ngày càng có xu hướng tìm mua và ưu tiên sử dụng sản phẩm có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng, chất lượng đảm bảo và có thương hiệu uy tín trên thị trường.
Sản phẩm nông nghiệp hữu cơ rất được nhiều DN quan tâm và tìm hiểu. Ảnh: Hải Yên
Trước tình thế đó, việc định hướng phát triển nền nông nghiệp sạch, đảm bảo an toàn thực phẩm cho thị trường trong nước và thị trường xuất khẩu trong xu thế hội nhập thế giới là một yêu cầu tất yếu để đáp ứng hài hòa nhu cầu phát triển kinh tế, môi trường và xã hội. Theo xu hướng đó, một số nhà đầu tư, các nông trường có quy mô khác nhau, kể cả các hợp tác xã nông nghiệp tiên phong chuyển dịch dần phương thức canh tác sang sản xuất xanh và sạch nhằm cung cấp cho thị trường các sản phẩm thực phẩm an toàn, phù hợp theo tiêu chuẩn quy định như VietGap, Global Gap, hoặc theo định hướng nông nghiệp tự nhiên không dùng thuốc. Trong đó, nông nghiệp hữu cơ (NNHC) được xem là một lãnh vực mới nổi ở Việt Nam, nhưng hứa hẹn hiệu quả kinh doanh lớn hơn và cơ hội phát triển tốt hơn trong tương lai.

Trong hơn 10 năm qua, nhiều doanh nghiệp (DN) đi theo hướng NNHC đã có nhiều sản phẩm hữu cơ được chứng nhận quốc tế từ rau củ, quả, tôm cá, gạo, trà, dầu dừa… Tuy nhiên, phần lớn các sản phẩm này xuất khẩu sang các nước Châu Âu, Châu Mỹ... chứ chưa có mặt nhiều ở thị phần nội địa. Nguyên nhân là do giá thành các sản phẩm NNHC khá cao, rất kén người mua nên vẫn chưa được người tiêu dùng trong nước biết nhiều. Chỉ đến khi vấn đề thực phẩm bẩn, chất cấm được sử dụng trong chăn nuôi, trồng trọt, chế bến, sản xuất… được báo động, sản phẩm NNHC mới bắt đầu được người tiêu dùng tìm đến.
Do thực phẩm được trồng theo phương thức NNHC nên việc chăm sóc rất mất nhiều thời gian, công sức, năng suất thấp, dẫn đến giá thành cao. Ảnh: Hải Yên
Chính vì thế, hội thảo “Nhận diện sản phẩm nông nghiệp Organic” được tổ chức nhằm tạo ra một bức tranh nhận diện rõ ràng hơn của ngành NNHC, từ đó thúc đẩy phong trào cũng như cách thức chuyển dịch từ sản xuất nông nghiệp vô cơ sang NNHC. Bên cạnh đó, đây cũng là cơ hội cho các DN đi theo hướng NNHC cùng ngồi lại thảo luận về góc nhìn và phát triển thị trường, mức độ công nhận của xã hội, qua đó các DN có những chiến lược và phương thức thực tế hơn để mở rộng mô hình NNHC.

Ngoài ra, hội thảo cũng là nơi các để các doanh nghiệp trong và ngoài nước cùng nhau chia sẻ kinh nghiệm về ngành NNHC, tạo cho các DN đang sử dụng phương thức sản xuất nông nghiệp vô cơ chuyển đổi sang phương thức canh tác hữu cơ sạch và xanh hơn, là chất xúc tác thức đẩy xây dựng thị trường ngách sản phẩm hữu cơ có quy mô nhỏ phát triển thành thị trường lớn hơn cho các sản phẩm thay thế khác, đáp ứng phù hợp với những thách thức và nhu cầu bức xúc đối với môi trường và cộng đồng xã hội.

Tại hội thảo, nhiều DN tham gia sản xuất NNHC kiến nghị Nhà nước và Chính phủ cần đồng hành hơn với DN để ngành NNHC phát triển mạnh. Cụ thể, cần có cơ chế chính sách rõ ràng trong hỗ trợ ưu đãi khi nông dân, DN tham gia NNHC như, nông dân canh tác hữu cơ sẽ được hưởng lợi gì về vay vốn ngân hàng (thời gian dài hơn và lãi suất thấp hơn) so với canh tác vô cơ. Tương tự, DN tham gia NNHC được hưởng lợi gì, ưu đãi gì khi phân phối sản phẩm, vay vốn, xúc tiến thương mại… Mặt khác, cần có sự quy hoạch cụ thể vùng sản xuất NNHC để tránh sự ô nhiễm chéo của vùng sản xuất vô cơ. Bên cạnh đó, phải có sự phân biệt rõ thế nào là VietGab, Golbal Gap, Organic trong sản xuất và cấp giấy chứng nhận để người tiêu dùng nhận diện; thưởng, phạt rõ ràng trong sản xuất hữu cơ và vô cơ nhằm tạo động lực cho người nông dân, DN tham gia mô hình sản xuất NNHC. Có như vậy, việc sản xuất nông nghiệp từ vô cơ sẽ chuyển dịch dần so mô hình NNHC, tạo được sự cạnh tranh khi hội nhập.

Nguồn: Báo Tin tức